Hoàn thiện cơ chế bảo vệ luật sư qua góc nhìn Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp

Thứ hai - 01/06/2026 21:51

(LSVN) - Bảo đảm quyền hành nghề của luật sư là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền bào chữa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng. Mặc dù dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã bước đầu bổ sung các quy định nghiêm cấm hành vi cản trở hoạt động hành nghề luật sư, song vẫn còn thiếu các cơ chế bảo vệ hữu hiệu để các quyền nghề nghiệp của luật sư được bảo đảm trên thực tế. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu hoàn thiện nhằm thể chế hóa đầy đủ tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và các chuẩn mực pháp lý quốc tế về vai trò của luật sư.

Hoàn thiện cơ chế bảo vệ luật sư qua góc nhìn Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp

Quyền hành nghề của luật sư là một bộ phận cấu thành quyền bào chữa được Hiến pháp bảo vệ

Trong Nhà nước pháp quyền hiện đại, quyền bào chữa không chỉ là quyền của người bị buộc tội mà còn là một trong những cơ chế quan trọng bảo đảm công lý và kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động tư pháp.

Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định:

"Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa".

Quy định này không chỉ xác lập quyền hiến định của công dân mà còn gián tiếp xác định vai trò không thể thiếu của luật sư trong tiến trình tố tụng. Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã dành nhiều quy định bảo đảm sự tham gia của luật sư với tư cách người bào chữa.
 

Tác giả bài viết trong một lần trao đổi với Luật sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thịnh, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Tác giả bài viết trong một lần trao đổi với Luật sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thịnh, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

Theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự, người bào chữa có quyền gặp người bị buộc tội; tham gia hỏi cung; có mặt khi lấy lời khai; thu thập chứng cứ; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu liên quan đến việc bào chữa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Khoản 1 Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự còn quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết thủ tục đăng ký bào chữa trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ.

Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã ghi nhận tương đối đầy đủ địa vị pháp lý của luật sư. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn tại.

Những khó khăn thực tiễn đối với hoạt động hành nghề luật sư

Thực tiễn hành nghề cho thấy không ít trường hợp luật sư gặp khó khăn trong việc thực hiện các quyền đã được pháp luật ghi nhận. Tình trạng chậm tiếp nhận hoặc giải quyết đăng ký bào chữa; hạn chế việc tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; khó khăn trong việc tiếp cận hồ sơ, sao chụp tài liệu; chậm trả lời các yêu cầu hợp pháp của luật sư vẫn được phản ánh trong nhiều vụ việc.

Đặc biệt, có trường hợp luật sư bị gây áp lực, bị cản trở hoặc bị hạn chế khả năng tiếp cận nguồn tài liệu phục vụ hoạt động bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Những hành vi này không chỉ xâm phạm quyền hành nghề của luật sư mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền bào chữa của người bị buộc tội và làm suy giảm hiệu quả thực hiện nguyên tắc tranh tụng được ghi nhận tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Từ góc độ pháp lý, khi quyền của luật sư bị hạn chế thì quyền tiếp cận công lý của công dân cũng bị ảnh hưởng. Đây là vấn đề cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ nghề nghiệp mà còn dưới góc độ bảo vệ quyền con người.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định rõ nhiệm vụ:

"Hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư, bảo đảm để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội-nghề nghiệp đối với luật sư, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề luật sư. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi về kỹ năng hành nghề và ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế".

Đây là lần đầu tiên vai trò của luật sư được đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng Nhà nước pháp quyền với tư cách là một chủ thể tham gia bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và góp phần kiểm soát việc thực thi quyền lực trong hoạt động tư pháp.

Điều này cho thấy quan điểm của Đảng không chỉ dừng lại ở việc phát triển đội ngũ luật sư về số lượng mà còn hướng tới việc nâng cao địa vị pháp lý và tạo điều kiện để luật sư thực hiện đầy đủ chức năng nghề nghiệp. Từ góc độ khoa học pháp lý, luật sư không đơn thuần là người cung cấp dịch vụ pháp lý mà còn là một thiết chế bảo vệ công lý. Thực tiễn của các quốc gia theo mô hình Nhà nước pháp quyền đều chứng minh rằng chất lượng bảo vệ quyền con người và quyền công dân phụ thuộc rất lớn vào mức độ độc lập và khả năng thực hiện đầy đủ quyền nghề nghiệp của luật sư.

Dự thảo Luật Luật sư vẫn thiếu cơ chế bảo vệ thực chất

Một trong những điểm mới đáng ghi nhận của dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) là đã bổ sung quy định nghiêm cấm các hành vi cản trở hoạt động hành nghề luật sư như từ chối, trì hoãn, gây khó khăn trái pháp luật; can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp; đe dọa, xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc xâm phạm tính độc lập của luật sư.

Tuy nhiên, xét dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, các quy định này mới chỉ xác định hành vi bị nghiêm cấm mà chưa thiết lập cơ chế bảo vệ tương ứng.

Dự thảo chưa làm rõ: Cơ quan nào có thẩm quyền tiếp nhận và xử lý ngay khi luật sư phản ánh việc bị cản trở hành nghề; Thời hạn xử lý và trách nhiệm giải quyết; Biện pháp bảo vệ khẩn cấp khi luật sư bị đe dọa hoặc bị cản trở; Chế tài cụ thể đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm. Nếu thiếu cơ chế bảo đảm thực thi, các quy định này rất dễ trở thành quy định mang tính tuyên ngôn, khó phát huy hiệu quả trên thực tế.

Cần bổ sung quyền tiếp cận tài liệu và cơ chế bảo vệ luật sư trong Bộ luật Tố tụng hình sự

Một trong những bất cập hiện nay là luật sư chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ để yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu phục vụ quá trình giải quyết vụ việc. Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng cần bổ sung vào khoản 1 Điều 12 dự thảo Luật Luật sư quyền của luật sư:

"Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chụp hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý, trừ trường hợp thuộc bí mật nhà nước hoặc pháp luật có quy định khác".

Việc bổ sung quy định này sẽ góp phần nâng cao khả năng thu thập chứng cứ, tăng tính bình đẳng trong tranh tụng và bảo đảm hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của luật sư.

Trong hoạt động tố tụng hình sự, để bảo đảm tính khả thi, cần nghiên cứu bổ sung một điều luật riêng vào Chương V Bộ luật Tố tụng hình sự về bảo đảm quyền hành nghề của người bào chữa. Cụ thể, cần quy định:

 - Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tạo điều kiện cho luật sư thực hiện đầy đủ quyền theo luật định;

- Quyền của luật sư yêu cầu Viện kiểm sát cùng cấp kiểm tra, xử lý khi có hành vi cản trở hoạt động bào chữa;

- Thời hạn giải quyết bắt buộc đối với các yêu cầu của luật sư;

- Trách nhiệm kỷ luật, hành chính hoặc hình sự đối với người có hành vi cản trở hoạt động nghề nghiệp của luật sư.

Đây là cơ sở để chuyển hóa quyền của luật sư từ quyền được ghi nhận trong luật thành quyền được bảo vệ bằng cơ chế pháp lý hữu hiệu. Có thể nói, các Nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư (Basic Principles on the Role of Lawyers) được  Liên hợp quốc về Phòng ngừa tội phạm và Tư pháp hình sự lần thứ 8 thông qua tại Havana, Cuba vào tháng 8 năm 1990  là bộ quy chuẩn quốc tế quan trọng nhất nhằm bảo vệ sự độc lập của nghề luật sư và quyền tiếp cận công lý của mọi người. Trong đó, nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư yêu cầu các quốc gia phải bảo đảm để luật sư có thể thực hiện chức năng nghề nghiệp mà không bị đe dọa, cản trở hoặc can thiệp trái pháp luật.

Trong Nhà nước pháp quyền, bảo vệ luật sư không phải là bảo vệ lợi ích của một nhóm nghề nghiệp mà là bảo vệ quyền bào chữa, quyền tiếp cận công lý và các quyền hiến định của công dân.

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã có bước tiến quan trọng khi nhận diện các hành vi cản trở luật sư. Tuy nhiên, để thể chế hóa đầy đủ tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW và yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ luật sư theo hướng cụ thể, khả thi và có tính cưỡng chế, chế tài đủ mạnh. Chỉ khi quyền hành nghề của luật sư được bảo đảm trên thực tế thì quyền con người, quyền công dân và nguyên tắc tranh tụng mới được thực hiện đầy đủ; qua đó góp phần xây dựng nền tư pháp dân chủ, công bằng, chuyên nghiệp và hiện đại theo tinh thần Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tác giả bài viết: Th.S, Luật sư NGUYỄN VĂN LÝ Chánh Văn phòng Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An

Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

ĐỐI TÁC CỦA LUẬT PHÁP LÝ
ngan háng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây