Thông thường, nội dung hợp đồng tín dụng và các thoả thuận liên quan đến việc cấp tín dụng các bên thường thoả thuận như sau (mẫu thoả thuận thường được áp dụng chung): “Lãi suất cho vay(trong hạn): Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân đầu tiên là x%/năm. Mức lãi suất này sẽ được điều chỉnh định kỳ … tháng/01 lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày …/…/…. Mức điều chỉnh lãi suất bằng: lãi suất bán vốn của bên ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ y %/năm. Lãi suất bán vốn là mức lãi suất do Hội sở chính của bên ngân hàng xác định từng thời kỳ.
Các bên thống nhất rằng đến kỳ điều chỉnh lãi suất, bên ngân hàng sẽ tự động thực hiện việc điều chỉnh theo đúng các thoả thuận nêu trên và không phải thông báo cho bên vay. Bên vay chấp thuận mức lãi suất mới kể từ thời điểm bên ngân hàng thực hiện việc điều chỉnh và cam kết không có bất kỳ tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện gì về vấn đề này.
Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, khi đến kỳ điều chỉnh lãi suất, lãi suất cho vay trong hạn vẫn được điều chỉnh theo phương thức do các bên thoả thuận trong hợp đồng này và các khế ước nhận nợ, lãi suất qúa hạn của kỳ đó cũng sẽ thay đổi theo - bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn sau khi đã điều chỉnh định kỳ”.
Đối với các tranh chấp tín dụng hiện nay, có bốn quan điểm khi quyết định về lãi suất quá hạn sau ngày xét xử sơ thẩm:
Quan điểm thứ nhất thể hiện tại Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của TAND huyện T, tỉnh V: Mức lãi suất quá hạn sau ngày xét xử sơ thẩm được Toà án xác định là mức lãi suất mà bị đơn đang phải chịu là 16,8%/năm.
Về lãi suất kể từ ngày 18/9/2024 (ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm): tại giấy nhận nợ ngày 05/5/2021 thì lãi suất cho vay tại thời điểm nhận nợ là 8.49%/năm. Tại khoản 9 Điều 2 của Hợp đồng cho vay và khoản 5 Điều 1 của khế ước nhận nợ thoả thuận lãi suất cho vay được điều chỉnh lần đầu vào ngày 05/11/2021 và tiếp tục được điều chỉnh định kỳ 01 lần/tháng và được công bố trên website:….. Kể từ ngày 05/11/2021 thì lãi suất trong hạn được điều chỉnh lên thành 10,8%/năm và kể từ ngày 05/02/2022 cho đến nay thì lãi suất trong hạn được điều chỉnh lên thành 11,2%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn (cụ thể là 16,8%/năm)…
Quan điểm của Toà án cho rằng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo bản án, quyết định của Toà án mà không phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cho vay đã ký kết. Bản án có hiệu lực đã chấm dứt hiệu lực của hợp đồng cho vay giữa các bên, cho nên việc áp dụng lãi suất sau ngày xét xử sơ thẩm biến động theo lãi suất của hợp đồng cho vay là không cụ thể, không đảm bảo và khó khăn trong công tác thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc anh T, chị Y chịu lãi suất đối với dư nợ gốc kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất quá hạn mà anh chị đang phải chịu là 16,8%/năm, như vậy mới phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao và không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015.
Vấn đề đặt ra cho quan điểm này là nguyên đơn không yêu cầu Toà án tuyên chấm dứt hợp đồng tín dụng và các thoả thuận liên quan. Thông báo chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ của các tổ chức tín dụng không đồng thời được xem hay mặc định là thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng tín dụng. Và về nguyên tắc theo quy định của BLTTDS 2015, Toà án chỉ xem xét, giải quyết vụ án trong phạm vi đơn khởi kiện[1]. Nên nguyên đơn là các tổ chức tín dụng không yêu cầu Toà án chấm dứt hiệu lực của hợp đồng tín dụng thì việc Toà án nhận định, quyết định hợp đồng đã chấm dứt hiệu lực liệu có phù hợp với quy định của BLTTDS 2015.
Quan điểm thứ hai thể hiện qua Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của TAND huyện V, tỉnh N: Mức lãi suất quá hạn sau ngày xét xử sơ thẩm được Toà án xác định là mức lãi suất mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng (150% mức lãi suất trong hạn). Trường hợp ngân hàng có văn bản điều chỉnh lãi suất và việc điều chỉnh lãi suất phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất thì mức lãi suất được áp dụng theo sự điều chỉnh của ngân hàng.
“Buộc vợ chồng anh T, chị H còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 24/9/2024 cho đến khi vợ chồng anh T, chị H thanh toán xong hết toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng theo mức lãi suất mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp ngân hàng có văn bản điều chỉnh lãi suất và việc điều chỉnh lãi suất phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất thì mức lãi suất vợ chồng anh T, chị H phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng được áp dụng theo sự điều chỉnh của ngân hàng”.
Quan điểm này tôn trọng sự thoả thuận giữa các bên và phán quyết lãi suất quá hạn sau ngày xét xử sơ thẩm căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án TAND Tối cao).
- Tình huống án lệ:
Trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay, gồm: lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn, việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay mà đến thời điểm xét xử sơ thẩm khách hàng vay chưa thanh toán, hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng, tổ chức tín dụng khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (nếu có), lãi nợ quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay.
Quan điểm thứ ba thể hiện tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của TAND thành phố V, tỉnh V và Bản án dân sự phúc thẩm số 16/2024/DS-PT ngày 23/1/2024 của TAND tỉnh V: Toà án cấp sơ thẩm và toà án cấp phúc thẩm quyết định cho bị đơn chỉ phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS là 10%/năm. Tình huống cụ thể như sau:
Ngày 17/5/2019, ngân hàng ký hợp đồng cho vay với ông T, bà H, cho vay số tiền 400.000.000 đồng. Mục đích vay: tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; thời hạn vay là 60 tháng; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9,9%/năm. Lãi suất này được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần; Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày….Mức điều chỉnh lãi suất bằng: lãi suất bán vốn của bên ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 15%/năm. Lãi suất bán vốn là lãi suất do Hội sở chính của ngân hàng xác định từng thời kỳ. Lãi suất cho vay đối với dư nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn.
Đối với thẻ tín dụng đã phát hành ngày 27/3/2017, lãi suất quá hạn được xác định bằng 150% lãi suất trong hạn.
Toà án cho rằng hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và ông T, bà H có thoả thuận về lãi suất nhưng phương thức áp dụng lãi suất theo thoả thuận của các bên là lãi suất thả nổi. Đối với thẻ tín dụng, lãi suất cho vay áp dụng theo biểu lãi suất do ngân hàng quy định đối với từng thời kỳ; đối với Hợp đồng tín dụng số… ngày 17/5/2019 thì lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần theo biên độ dao động 15%/năm. Do đó về bản chất khi xác lập quan hệ vay nợ giữa ông T bà H với ngân hàng chưa thống nhất mức lãi suất cụ thể là bao nhiêu. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, mức lãi suất cho vay theo Hợp đồng tín dụng số… ngày 17/5/2019 mà ngân hàng điều chỉnh đang áp dụng đối với ông T, bà H là 14,6%/năm, lãi suất quá hạn là 21.9%/năm. Còn thẻ tín dụng đang áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 4,49%/tháng, tương đương 53,8%/năm. Mặc dù việc thoả thuận là do các bên nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Khoản 1 Điều 468 BLDS quy định: “Trường hợp các bên có thoả thuận về lãi suất thì lãi suất theo thoả thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao thì không có căn cứ để buộc bị đơn tiếp tục trả lãi quá hạn cho ngân hàng theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết nợ. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm quyết định cho ông T, bà H chỉ phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.
Tại Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP quy định như sau:
“Điều 13. Quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án
1. Khi giải quyết vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án thì Tòa án phải quyết định trong bản án hoặc quyết định (Phần quyết định) như sau:
a) Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015.
2. “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận” hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn”.
Hợp đồng tín dụng trong vụ việc này các bên có thoả thuận về mức lãi suất, cụ thể là lãi suất thả nổi được điều chỉnh định kỳ căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN[2] nên không thể cho rằng các bên không xác định rõ lãi suất để lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015 (mức lãi suất giới hạn là 20%/năm). Căn cứ khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP thì sẽ phải áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn các bên thoả thuận trong hợp đồng.
Quan điểm thứ tư cho rằng lãi suất quá hạn sau ngày xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN. Cụ thể:
“4. Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;
b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.”
Lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP thì lãi suất quá hạn được thoả thuận phải phù hợp với quy định của pháp luật, nghĩa là phù hợp với quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN, lãi suất quá hạn sẽ không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Tuy nhiên, dưới góc độ lợi ích, cũng cần nhìn nhận rằng thoả thuận lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh tại từng thời điểm theo thoả thuận tại văn kiện tín dụng đôi khi lại có lợi cho khách hàng khi lãi suất cho vay trong hạn có dấu hiệu hạ nhiệt.
Người viết cho rằng để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong áp dụng pháp luật dân sự được quy định tại khoản 1 Điều 3 BLDS 2015 thì cần có sự thống nhất trong vấn đề áp dụng pháp luật đối với yêu cầu khởi kiện về lãi suất sau ngày xét xử sơ thẩm.
[1] Xem thêm khoản 1 Điều 5 BLTTDS 2015[2] Khoản 5 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định:
Trường hợp áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh, tổ chức tín dụng và khách hàng phải thỏa thuận nguyên tắc và các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh, thời điểm điều chỉnh lãi suất cho vay. Trường hợp căn cứ các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh dẫn đến có nhiều mức lãi suất cho vay khác, thì tổ chức tín dụng áp dụng mức lãi suất cho vay thấp nhất.
Tác giả bài viết: Thạc sĩ DƯƠNG THỊ CHIẾN Công ty Luật TNHH Pros Legal.
Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn