1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, tình trạng làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức có xu hướng gia tăng với diễn biến ngày càng phức tạp, các loại tài liệu bị làm giả rất đa dạng, bao gồm văn bằng, chứng chỉ, giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng tuyển dụng, thẻ thương binh, lý lịch quân nhân, quyết định phục viên, kết quả giám định thương tật…Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và mạng xã hội thì phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm ngày càng tinh vi, có tổ chức và khó kiểm soát hơn. Đồng thời, tội phạm này thường có mối liên hệ chặt chẽ với các tội phạm khác như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tham ô tài sản, gây khó khăn trong việc định tội danh và xử lý. Bài viết phân tích và làm rõ một số hạn chế, bất cập, từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật.
2. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"; tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"; tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
- Khách thể của tội phạm: Đối với tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"; tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức", hành vi phạm tội xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, uy tín của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính, đồng thời xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Đối tượng tác động của tội phạm là con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức, bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và các tổ chức khác. Con dấu là phương tiện xác nhận giá trị pháp lý của văn bản do cơ quan, tổ chức sử dụng trong hoạt động quản lý. Tài liệu, giấy tờ là các văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành.
Tài liệu, giấy tờ giả được hiểu là những tài liệu không do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành nhưng được tạo ra giống hoặc có đặc điểm giống tài liệu thật. Thực tiễn áp dụng cho thấy việc xác định “tài liệu giả” trong một số trường hợp cụ thể còn có khó khăn; tuy nhiên, với đặc điểm là tội phạm có cấu thành hình thức, chỉ cần tài liệu được tạo ra không đúng thẩm quyền và sử dụng vào mục đích trái pháp luật thì có thể coi là “giả”.
Như vậy, khách thể của tội phạm này chính là hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính về con dấu, tài liệu. Hành vi làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả đã trực tiếp làm sai lệch tính xác thực của các công cụ quản lý hành chính, qua đó xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho các chủ thể có liên quan.
- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"; tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định. Theo Điều 12 BLHS, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.Về năng lực trách nhiệm hình sự, chủ thể phải là người có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và điều khiển hành vi của mình tại thời điểm thực hiện tội phạm. Những trường hợp mất năng lực nhận thức hoặc điều khiển hành vi theo quy định của pháp luật (như mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng này) thì không phải là chủ thể của tội phạm.
Đây là tội phạm không có chủ thể đặc biệt, không đòi hỏi người phạm tội phải có chức vụ, quyền hạn hay nghề nghiệp nhất định. Do đó, về nguyên tắc, bất kỳ cá nhân nào có đủ điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chủ thể của hai hành vi trong cùng điều luật có đặc điểm biểu hiện khác nhau: đối với hành vi làm giả, chủ thể thường là người trực tiếp thực hiện việc tạo ra con dấu, tài liệu giả hoặc tổ chức việc làm giả; trong khi đối với hành vi sử dụng, chủ thể là người biết rõ tài liệu là giả nhưng vẫn sử dụng nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật.
- Mặt khách quan của tội phạm: Điều 341 BLHS quy định hai hành vi khách quan là hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức và hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi trái pháp luật.Hành vi làm giả được hiểu là việc người phạm tội sử dụng các phương thức như khắc, đúc, in, sao chép hoặc các thủ đoạn khác nhằm tạo ra con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ không do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc cấp phát nhưng có hình thức giống hoặc tương tự như thật, có khả năng làm cho người khác tin là thật. Đối tượng bị làm giả có thể là con dấu, giấy chứng nhận, văn bằng, chứng chỉ, giấy phép, căn cước công dân hoặc các loại giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức.
Hành vi sử dụng được hiểu là việc người phạm tội đưa con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả vào các quan hệ pháp luật, thủ tục hành chính hoặc giao dịch khác nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật. Dấu hiệu bắt buộc đối với hành vi này là người sử dụng phải biết rõ tài liệu mình sử dụng là giả và việc sử dụng phải nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật.
Tội phạm quy định tại Điều 341 BLHS là tội phạm có cấu thành hình thức. Do đó, tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả theo quy định của điều luật mà không phụ thuộc vào việc hành vi đó đã gây ra thiệt hại hoặc hậu quả thực tế hay chưa. Hậu quả xảy ra trong từng trường hợp cụ thể không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm mà chỉ có ý nghĩa trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và quyết định hình phạt.
- Mặt chủ quan của tội phạm:
Thứ nhất, về lỗi: Người thực hiện hành vi phạm tội theo Điều 341 BLHS luôn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Đối với hành vi làm giả, người phạm tội biết rõ con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ do mình tạo ra không phải do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, ban hành hoặc xác nhận nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi làm giả.
Đối với hành vi sử dụng, người phạm tội nhận thức rõ con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ mình sử dụng là giả nhưng vẫn sử dụng nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì vậy, trường hợp người sử dụng không biết hoặc không có căn cứ để biết tài liệu, giấy tờ là giả thì không thuộc trường hợp phạm tội theo Điều 341 BLHS.
Thứ hai, về mục đích phạm tội: Đối với hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức, mục đích “nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật” là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Người phạm tội sử dụng tài liệu giả nhằm thực hiện một hành vi trái pháp luật nhất định. Trong thực tiễn, hành vi trái pháp luật này có thể nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý trái quy định của pháp luật hoặc phục vụ việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Đối với hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức, Điều 341 BLHS hiện hành không quy định mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành cơ bản. Tuy nhiên, việc xác định mục đích làm giả có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội và quyết định hình phạt.
Thứ ba, về động cơ phạm tội: Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm quy định tại Điều 341 BLHS. Người phạm tội có thể thực hiện hành vi vì nhiều động cơ khác nhau như vụ lợi, phục vụ lợi ích cá nhân, che giấu nhân thân, trốn tránh nghĩa vụ, tạo điều kiện cho người khác thực hiện hành vi trái pháp luật hoặc vì những mục đích cá nhân khác.
Mặc dù không phải là dấu hiệu định tội, nhưng động cơ phạm tội là căn cứ quan trọng để đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xem xét nhân thân người phạm tội và cá thể hóa hình phạt trong từng trường hợp cụ thể.
2.2. Hình phạt áp dụng: Khoản 1 Điều 341 quy định khung hình phạt cơ bản, áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có các tình tiết định khung tăng nặng. Theo đó, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
Khoản 2 Điều 341 BLHS quy định khung hình phạt tăng nặng với mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm đối với các trường hợp phạm tội có tính chất nghiêm trọng hơn như: phạm tội có tổ chức; phạm tội từ hai lần trở lên; làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; tái phạm nguy hiểm.
Khoản 3 Điều 341 BLHS quy định khung hình phạt đặc biệt nghiêm trọng với mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với trường hợp làm từ 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên; sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên.
Ngoài hình phạt chính, khoản 4 Điều 341 BLHS còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Việc quy định hình phạt bổ sung bằng tiền nhằm tăng cường tính răn đe, giáo dục và góp phần phòng ngừa các hành vi làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức.
3. Một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"; tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
Thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" còn gặp một số khó khăn, vướng mắc cụ thể như sau:
Thứ nhất, Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định giải thích dấu hiệu “thực hiện hành vi trái pháp luật”.
Điều 341 BLHS quy định hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức phải nhằm “thực hiện hành vi trái pháp luật”. Đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm đối với hành vi sử dụng tài liệu giả. Tuy nhiên, BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định giải thích cụ thể nội hàm của dấu hiệu này nên trong thực tiễn áp dụng còn phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau.
Có quan điểm cho rằng chỉ cần người sử dụng biết rõ tài liệu là giả nhưng vẫn sử dụng vào một hoạt động trái quy định của pháp luật thì đã đủ yếu tố CTTP. Theo cách hiểu này, tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm tài liệu giả được đưa vào sử dụng, không phụ thuộc vào việc hậu quả có xảy ra hay không.
Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng việc xác định TNHS không chỉ căn cứ vào hành vi sử dụng tài liệu giả mà còn phải xem xét mục đích sử dụng, tính chất của hành vi, mức độ nguy hiểm cho xã hội và khả năng xâm phạm khách thể được luật hình sự bảo vệ. Quan điểm này xuất phát từ quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, theo đó chỉ những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội mới bị coi là tội phạm.
Ví dụ: Đối với trường hợp sử dụng bằng tốt nghiệp giả để nộp hồ sơ xin việc nhưng chưa được tuyển dụng, có nơi xác định người sử dụng đã thực hiện hành vi trái pháp luật nên đủ yếu tố CTTP theo Điều 341 BLHS; nhưng cũng có nơi cho rằng hành vi chưa làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý hoặc chưa gây hậu quả thực tế nên chỉ xử lý vi phạm hành chính.
Thứ hai, trong thực tiễn áp dụng pháp luật còn có sự nhận thức khác nhau về mối quan hệ giữa hai hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức và hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức, đặc biệt trong trường hợp cùng một người vừa làm giả vừa sử dụng tài liệu giả.
Ví dụ: Vụ án đối với bị cáo Lê Phú T được Tòa án hai cấp giải quyết theo các hướng khác nhau.
Theo nội dung vụ án, khoảng đầu tháng 6 năm 2012, do đang bị truy nã nên Lê Phú T đã thay ảnh của mình vào giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thanh Kh nhằm che giấu nhân thân. Sau đó, bị cáo nhiều lần sử dụng giấy tờ này trong các giao dịch khác nhau, như mở tài khoản ngân hàng và ký kết hợp đồng bán hàng đa cấp.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi thay ảnh trên giấy chứng minh nhân dân là hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; đồng thời xác định bị cáo đã nhiều lần sử dụng tài liệu giả nên áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần”. Trên cơ sở áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội theo Nghị quyết số 41/2017/QH14, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS.
Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng các hành vi sử dụng giấy tờ giả trước ngày 01/01/2018 đã bị thu hút vào hành vi sử dụng tài liệu giả theo Điều 341 BLHS năm 2015. Do đó, bị cáo chỉ thực hiện một lần làm giả giấy chứng minh nhân dân nên không đủ căn cứ áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, từ đó chuyển khung hình phạt từ khoản 2 sang khoản 1 Điều 341 BLHS.
Qua vụ án trên cho thấy thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay vẫn còn tồn tại cách hiểu khác nhau về mối quan hệ giữa hành vi làm giả và hành vi sử dụng tài liệu giả; về phạm vi hành vi bị thu hút; cũng như việc áp dụng các quy định có lợi của BLHS năm 2015 đối với các hành vi được thực hiện trước thời điểm bộ luật này có hiệu lực.
Thứ ba, trong định tội danh đối với trường hợp sử dụng tài liệu giả để thực hiện tội phạm khác
Một trong những vấn đề còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng Điều 341 BLHS là việc định tội danh đối với trường hợp người phạm tội sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức để thực hiện tội phạm khác. Bản chất của vướng mắc không nằm ở việc có xử lý theo Điều 341 BLHS hay không mà ở việc xác định đúng mối quan hệ pháp lý giữa hành vi làm giả, sử dụng tài liệu giả với tội phạm được thực hiện thông qua việc sử dụng tài liệu đó. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc xác định người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về một tội hay nhiều tội, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến việc định tội danh và quyết định hình phạt. Nguyên nhân của sự thiếu thống nhất xuất phát từ việc Điều 341 BLHS mới chỉ quy định các hành vi làm giả và sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức mà chưa có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về mối quan hệ giữa tội phạm này với các tội phạm khác được thực hiện thông qua việc sử dụng tài liệu giả. Trong thực tế, tài liệu giả thường chỉ là phương tiện để thực hiện nhiều hành vi phạm tội như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hưởng chế độ, chính sách trái quy định hoặc thực hiện các giao dịch nhằm chiếm đoạt tài sản. Việc chưa có tiêu chí pháp lý để phân định giữa trường hợp phạm nhiều tội với trường hợp hành vi bị thu hút đã dẫn đến nhận thức và áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Đối với trường hợp làm giả tài liệu để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trước đây tồn tại hai quan điểm khác nhau. Do đó, để thống nhất áp dụng pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019, xác định trường hợp làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về cả Điều 341 BLHS và Điều 174 BLHS nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành của từng tội phạm. Tuy nhiên, Công văn số 212 mới chỉ giải quyết mối quan hệ giữa Điều 341 BLHS và Điều 174 BLHS mà chưa làm rõ cách xử lý đối với nhiều trường hợp khác cũng thường xuyên phát sinh trong thực tiễn. Chẳng hạn, người phạm tội sử dụng bằng tốt nghiệp giả để được tuyển dụng, sử dụng giấy xác nhận thương binh giả để hưởng chế độ ưu đãi hoặc sử dụng hồ sơ giả để thực hiện các giao dịch nhằm thu lợi bất chính. Đối với những trường hợp này, hiện vẫn chưa có tiêu chí thống nhất để xác định khi nào phải xử lý đồng thời về Điều 341 BLHS và tội phạm khác, khi nào hành vi sử dụng tài liệu giả chỉ là phương thức thực hiện tội phạm và bị thu hút vào cấu thành của tội phạm đó. Chính khoảng trống trong hướng dẫn áp dụng pháp luật là nguyên nhân dẫn đến việc cùng một dạng hành vi nhưng có những vụ án bị xử lý về nhiều tội danh, trong khi những vụ án khác lại chỉ bị xử lý về một tội.
Thứ tư, trong xác định số lượng tài liệu giả và áp dụng tình tiết định khung tăng nặng theo Điều 341 Bộ luật Hình sựĐiều 341 BLHS quy định nhiều tình tiết định khung tăng nặng gắn với số lượng tài liệu giả và tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội như: “làm từ 02 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên”, “làm từ 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên”, “phạm tội 02 lần trở lên”, “thu lợi bất chính”, “tái phạm nguy hiểm”. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy việc xác định số lượng tài liệu giả làm căn cứ định khung hình phạt hiện vẫn còn phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau.
Việc xác định thế nào là một tài liệu giả trong trường hợp người phạm tội làm giả nhiều giấy tờ có liên quan với nhau để phục vụ cùng một mục đích. Thực tiễn cho thấy có trường hợp người phạm tội làm giả bằng tốt nghiệp, bảng điểm, chứng chỉ ngoại ngữ để hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng; hoặc làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm theo các giấy tờ có liên quan nhằm thực hiện giao dịch dân sự. Trong các trường hợp này, có quan điểm cho rằng mỗi loại giấy tờ là một tài liệu giả độc lập để xác định số lượng tài liệu giả. Quan điểm khác lại cho rằng cần xem xét toàn bộ các giấy tờ trong mối liên hệ với mục đích sử dụng chung để đánh giá tính chất của hành vi phạm tội. Việc chưa có tiêu chí pháp lý thống nhất để xác định ranh giới giữa “một tài liệu giả” với “một bộ hồ sơ giả” đã dẫn đến sự khác nhau trong áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng.
Thực tiễn cũng phát sinh khó khăn trong trường hợp người phạm tội đã làm giả nhiều tài liệu nhưng chưa sử dụng hoặc chưa xác định được người sử dụng.
Ví dụ: Vụ án Võ Thị T và Lê Văn T1. Theo nội dung vụ án, các bị cáo đã sử dụng máy tính, máy in và máy scan để làm giả giấy khám sức khỏe của Bệnh viện Quân dân y và Phòng khám đa khoa khu vực Tắc Vân nhằm bán cho những người có nhu cầu xin việc và thi giấy phép lái xe. Quá trình điều tra xác định các bị cáo đã làm giả tổng cộng 12 giấy khám sức khỏe.
Khi giải quyết vụ án đã xuất hiện các quan điểm khác nhau về việc xác định số lượng tài liệu giả để áp dụng tình tiết định khung. Có quan điểm cho rằng mọi giấy khám sức khỏe đã được làm giả hoàn chỉnh đều là tài liệu giả theo Điều 341 BLHS, không phụ thuộc vào việc đã được sử dụng hay chưa. Quan điểm khác lại cho rằng chỉ những tài liệu đã được xác định rõ quá trình tạo lập và có căn cứ chứng minh sự tồn tại thực tế mới được tính là tài liệu giả để làm căn cứ định khung hình phạt.
Thứ năm, trong thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ điện tử đối với tội phạm làm giả tài liệu trên không gian mạngCùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hiện nay được thực hiện thông qua mạng internet. Người có nhu cầu làm giả tài liệu thường liên hệ với người làm giả qua các ứng dụng mạng xã hội, chuyển tiền bằng tài khoản ngân hàng và nhận tài liệu thông qua dịch vụ chuyển phát. Vì vậy, chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội trong nhiều vụ án chủ yếu tồn tại dưới dạng dữ liệu điện tử.
Vấn đề đặt ra là việc xác định người thực hiện hành vi phạm tội thường gặp nhiều khó khăn. Người làm giả tài liệu thường sử dụng tài khoản mạng xã hội không chính chủ, sim điện thoại đăng ký bằng thông tin của người khác hoặc tài khoản ngân hàng thuê, mượn. Toàn bộ quá trình trao đổi, thỏa thuận và thanh toán được thực hiện trên môi trường điện tử. Khi vụ án bị phát hiện thì các tài khoản đã bị khóa, dữ liệu đã bị xóa hoặc không còn khả năng truy xuất. Trong nhiều trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ xác định được người sử dụng tài liệu giả mà không xác định được người trực tiếp thực hiện hành vi làm giả.
Bên cạnh đó, việc đánh giá giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử cũng còn những khó khăn nhất định. Các tài liệu thường được thu thập dưới dạng ảnh chụp màn hình, tin nhắn điện tử, lịch sử giao dịch ngân hàng hoặc dữ liệu lưu trữ trong điện thoại di động. Đây là những dữ liệu có thể bị thay đổi, chỉnh sửa hoặc xóa bỏ nếu không được thu thập kịp thời và đúng trình tự luật định. Vì vậy, việc xác định tính xác thực của chứng cứ trong nhiều vụ án còn có những quan điểm khác nhau.
Có trường hợp người sử dụng tài liệu giả thừa nhận đã liên hệ đặt làm giấy tờ thông qua mạng xã hội nhưng cơ quan điều tra không thu thập được dữ liệu trao đổi do tài khoản đã bị xóa hoặc không còn tồn tại. Khi đó, việc chứng minh hành vi phạm tội chủ yếu dựa vào lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu gián tiếp khác. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định vai trò của từng người trong vụ án, nhất là đối với các trường hợp có dấu hiệu đồng phạm.Một vấn đề khác là việc thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp viễn thông, tổ chức tín dụng hoặc các nền tảng mạng xã hội còn gặp nhiều trở ngại. Nhiều dữ liệu được lưu trữ ở nước ngoài hoặc chỉ được lưu giữ trong thời gian nhất định. Khi có yêu cầu cung cấp thì dữ liệu đã bị xóa hoặc không còn khả năng phục hồi, làm hạn chế khả năng chứng minh tội phạm.Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự đã xác định dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ, nhưng đối với các vụ án về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức", việc thu thập, kiểm tra và đánh giá loại chứng cứ này vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được hướng dẫn. Hiện nay chưa có quy định cụ thể đối với một số dạng dữ liệu điện tử thường gặp như dữ liệu trao đổi trên mạng xã hội, dữ liệu lưu trữ đám mây hoặc dữ liệu được phục hồi từ thiết bị điện tử.3. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
Qua nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự đối với tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"; tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức", trên cơ sở đánh giá tình hình thực tiễn cùng những yếu tố đã được phân tích trên, tác giả đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật đối với tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"; tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" như sau:
Thứ nhất, về dấu hiệu “thực hiện hành vi trái pháp luật” và căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 341 Bộ luật Hình sựĐây là dấu hiệu có ý nghĩa quyết định trong việc xác định tội phạm, nhưng khoản 1 Điều 341 BLHS mới chỉ ghi nhận mà chưa làm rõ nội dung pháp lý của dấu hiệu này. Do đó, chúng tôi kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 341 BLHS theo hướng: “Hành vi trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý trái quy định của pháp luật hoặc xâm phạm hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
Việc hướng dẫn theo hướng này sẽ góp phần làm rõ khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời tạo căn cứ thống nhất trong việc phân biệt giữa vi phạm hành chính với hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự.
Thứ hai, về xác định mối quan hệ giữa hành vi làm giả và hành vi sử dụng tài liệu giả theo Điều 341 Bộ luật Hình sựĐiều 341 BLHS hiện hành quy định hai hành vi khách quan là hành vi làm giả và hành vi sử dụng tài liệu giả trong cùng một điều luật. Tuy nhiên, điều luật chưa làm rõ mối quan hệ pháp lý giữa hai hành vi này; chưa xác định trường hợp nào là hành vi độc lập, trường hợp nào là hành vi bị thu hút; đồng thời chưa có quy định cụ thể về nguyên tắc xác định số lần phạm tội và áp dụng các tình tiết định khung trong trường hợp người phạm tội vừa làm giả vừa sử dụng tài liệu giả.
Để khắc phục bất cập trên, chúng tôi kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 341 BLHS theo hướng: “Hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức và hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả là các hành vi khách quan độc lập được quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự. Trường hợp người phạm tội vừa làm giả vừa sử dụng tài liệu giả thì việc xác định trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào tính chất, mục đích, thời điểm thực hiện và mức độ độc lập của từng hành vi; không mặc nhiên xác định là nhiều lần phạm tội, đồng thời cũng không đương nhiên coi toàn bộ hành vi sử dụng tài liệu giả đã bị thu hút vào hành vi làm giả”.
Trên cơ sở đó, cần hướng dẫn cụ thể nguyên tắc xác định trường hợp hành vi sử dụng tài liệu giả được xem là giai đoạn tiếp nối của quá trình phạm tội làm giả và trường hợp được xem là hành vi độc lập. Theo đó, có thể hướng dẫn theo hướng: “Trường hợp người phạm tội làm giả tài liệu và sử dụng tài liệu đó nhằm thực hiện một mục đích trái pháp luật thống nhất thì được xác định là một quá trình phạm tội liên tục. Trường hợp sau khi làm giả, người phạm tội sử dụng tài liệu giả trong nhiều giao dịch hoặc quan hệ pháp luật độc lập khác nhau nhằm đạt được các lợi ích khác nhau thì từng lần sử dụng được xem xét khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và áp dụng các tình tiết định khung tương ứng”.
Dưới góc độ hoàn thiện pháp luật, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu sửa đổi Điều 341 BLHS để giải quyết triệt để vấn đề này theo hướng bổ sung quy định về nguyên tắc xử lý đối với trường hợp người phạm tội thực hiện đồng thời cả hành vi làm giả và hành vi sử dụng tài liệu giả. Có thể nghiên cứu bổ sung một khoản hướng dẫn trong điều luật hoặc quy định giải thích theo hướng: “Trường hợp người phạm tội vừa làm giả vừa sử dụng chính tài liệu do mình làm giả thì việc xác định trách nhiệm hình sự, số lần phạm tội và tình tiết định khung phải căn cứ vào tính độc lập của từng hành vi và hậu quả pháp lý do từng hành vi gây ra”.
Việc phân biệt giữa sử dụng tài liệu giả trong các thủ tục hành chính thông thường với sử dụng tài liệu giả để thực hiện tội phạm khác, cần hướng dẫn phân biệt giữa trường hợp sử dụng tài liệu giả trong các thủ tục hành chính thông thường với trường hợp sử dụng tài liệu giả nhằm thực hiện tội phạm khác hoặc nhằm đạt được các lợi ích trái pháp luật như chiếm đoạt tài sản, tuyển dụng trái quy định, hưởng chế độ chính sách hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Đây là căn cứ quan trọng để đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và lựa chọn chế tài xử lý phù hợp.
Thứ ba, định tội danh đối với trường hợp sử dụng tài liệu giả để thực hiện tội phạm khác
Qua nghiên cứu thực tiễn áp dụng Điều 341 BLHS cho thấy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thiếu thống nhất trong định tội danh không phải do quy định của điều luật chưa đầy đủ mà do chưa có hướng dẫn cụ thể về mối quan hệ giữa tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" với các tội phạm được thực hiện thông qua việc sử dụng tài liệu giả. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào việc thống nhất tiêu chí áp dụng, thay vì sửa đổi hoặc bổ sung nội dung của Điều 341 BLHS.
- Kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất việc phân định giữa trường hợp phạm nhiều tội và trường hợp áp dụng nguyên tắc thu hút khi áp dụng Điều 341 BLHS theo hướng: “Trường hợp người phạm tội làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức và hành vi đó đồng thời xâm phạm một khách thể khác được luật hình sự bảo vệ, đủ yếu tố cấu thành của tội phạm tương ứng thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự về từng tội danh. Trường hợp việc sử dụng tài liệu giả chỉ là phương thức hoặc là giai đoạn tiếp nối tất yếu của hành vi làm giả, không làm phát sinh sự xâm hại đối với khách thể độc lập khác thì không tách thành tội danh riêng”. Hướng dẫn này sẽ tạo cơ sở pháp lý thống nhất để xác định đúng trường hợp xử lý về nhiều tội và trường hợp áp dụng nguyên tắc thu hút trong thực tiễn. Mặc dù Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao đã thống nhất cách xử lý đối với trường hợp làm giả tài liệu để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn đối với nhiều trường hợp sử dụng tài liệu giả để thực hiện các tội phạm khác thường xuyên phát sinh trong thực tiễn.
- Kiến nghị mở rộng phạm vi hướng dẫn áp dụng Điều 341 BLHS đối với các trường hợp sử dụng tài liệu giả để thực hiện những tội phạm khác ngoài Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hướng: “Việc xác định trách nhiệm hình sự không phụ thuộc vào tên tội danh mà người phạm tội hướng tới, mà căn cứ vào việc hành vi sử dụng tài liệu giả có đồng thời xâm phạm khách thể độc lập khác và có đủ dấu hiệu cấu thành của tội phạm tương ứng hay không”. Trên cơ sở đó, các trường hợp sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả để được tuyển dụng; sử dụng giấy tờ giả để hưởng chế độ, chính sách; hoặc sử dụng tài liệu giả nhằm thực hiện các giao dịch để thu lợi bất chính đều có căn cứ pháp lý thống nhất trong việc xác định khi nào phải xử lý về nhiều tội và khi nào hành vi sử dụng tài liệu giả chỉ là phương thức thực hiện tội phạm khác. Một vấn đề khác chưa được hướng dẫn thống nhất là trường hợp người phạm tội vừa trực tiếp làm giả vừa sử dụng chính tài liệu giả do mình làm ra. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc cùng một dạng hành vi nhưng có vụ án được xử lý khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Kiến nghị hướng dẫn cụ thể tiêu chí xác định trách nhiệm hình sự đối với trường hợp người phạm tội vừa làm giả vừa sử dụng tài liệu giả do mình làm ra theo hướng: “Việc định tội danh cần được xem xét trên các tiêu chí gồm: (1) khách thể bị xâm hại; (2) tính độc lập của từng hành vi; (3) thời điểm hoàn thành của từng tội phạm; và (4) mục đích sử dụng tài liệu giả”. Chỉ khi hành vi sử dụng tài liệu giả đồng thời xâm phạm khách thể độc lập khác và đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành của tội phạm tương ứng thì mới xử lý về nhiều tội; ngược lại, nếu hành vi sử dụng chỉ là sự tiếp nối tất yếu của quá trình làm giả trong cùng phạm vi điều chỉnh của Điều 341 BLHS thì không tách thành tội danh độc lập. Những tiêu chí này vừa bảo đảm phù hợp với nguyên tắc định tội danh của luật hình sự, vừa tạo thuận lợi cho việc áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
Thứ tư, về xác định số lượng tài liệu giả và áp dụng tình tiết định khung tăng nặng theo Điều 341 Bộ luật Hình sựVướng mắc chủ yếu hiện nay nằm ở trường hợp nhiều giấy tờ giả được tạo lập trong cùng một bộ hồ sơ hoặc cùng hướng tới một mục đích sử dụng chung nhất. Thực tiễn hiện nay cho thấy cùng một bộ hồ sơ có thể bao gồm nhiều loại giấy tờ khác nhau, nhưng chưa có căn cứ thống nhất để xác định đây là nhiều tài liệu giả độc lập hay chỉ là các thành phần của một bộ hồ sơ giả thống nhất.
Từ yêu cầu bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, chúng tôi kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn theo nội dung sau: “Trường hợp nhiều giấy tờ giả được tạo lập trong cùng một bộ hồ sơ nhằm phục vụ một mục đích sử dụng thống nhất thì việc xác định số lượng tài liệu giả phải căn cứ vào giá trị pháp lý độc lập của từng giấy tờ, không căn cứ đơn thuần vào số lượng giấy tờ có trong hồ sơ”.
Bên cạnh đó, thực tiễn còn đặt ra yêu cầu phải xác định cách thức xử lý đối với các tài liệu giả đã được tạo lập nhưng chưa được sử dụng hoặc chưa xác định được người sử dụng. Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định số lượng tài liệu giả để áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng nhưng hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể.
Đối với trường hợp này, cần xác định rõ: “Tài liệu đã được hoàn thành việc làm giả về nội dung và hình thức được xác định là tài liệu giả theo Điều 341 Bộ luật Hình sự, không phụ thuộc vào việc tài liệu đó đã được sử dụng hay chưa; việc xác định số lượng tài liệu giả phải dựa trên các tài liệu thực tế đã được tạo lập và được chứng minh bằng chứng cứ hợp pháp”.
Mặt khác, cần tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa số lượng tài liệu giả với tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Thực tiễn xét xử cho thấy không ít trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng đồng nhất việc làm giả nhiều tài liệu với việc phạm tội nhiều lần, dẫn đến áp dụng tình tiết định khung không thống nhất.
Để bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật, cần hướng dẫn theo hướng: “Việc xác định số lượng tài liệu giả không đồng nhất với việc xác định số lần phạm tội. Trường hợp nhiều tài liệu giả được tạo lập trong cùng một quá trình phạm tội nhằm thực hiện một mục đích thống nhất thì không mặc nhiên xác định là phạm tội 02 lần trở lên. Tình tiết ‘phạm tội 02 lần trở lên’ chỉ được áp dụng khi người phạm tội thực hiện từ hai hành vi phạm tội độc lập trở lên và mỗi hành vi đều đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm”.
Thứ sáu, về thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ điện tử đối với tội phạm làm giả con dấu, tài liệu trên không gian mạngSự phát triển của công nghệ số đã làm thay đổi đáng kể phương thức thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều 341 BLHS. Trong nhiều vụ án hiện nay, dữ liệu điện tử không chỉ là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội mà còn trở thành nguồn chứng cứ chủ yếu để chứng minh tội phạm.
Dù đã được thừa nhận là một nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, nhưng cơ chế thu thập, kiểm tra và đánh giá dữ liệu điện tử đối với nhiều dạng thông tin phổ biến hiện nay vẫn chưa được hướng dẫn đầy đủ.
Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi cho rằng cần ban hành hướng dẫn liên ngành về thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ điện tử trong các vụ án hình sự nói chung và các vụ án theo Điều 341 BLHS nói riêng. Trong đó cần xác định rõ: “Dữ liệu điện tử được sử dụng làm chứng cứ khi được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục luật định và có căn cứ xác định tính xác thực, tính toàn vẹn cũng như mối liên hệ với vụ án. Việc đánh giá giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử phải được thực hiện trong mối liên hệ với các chứng cứ khác của vụ án; không được chỉ căn cứ vào một nguồn dữ liệu điện tử duy nhất để kết luận về hành vi phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phạm tội”.
Nhiều đối tượng sử dụng tài khoản không chính chủ, tài khoản thuê hoặc tài khoản được đăng ký bằng thông tin của người khác nhằm che giấu nhân thân. Trong khi đó, pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể về các căn cứ xác định người sử dụng thực tế đối với các tài khoản này.
Vì vậy, cần hướng dẫn theo hướng: “Việc xác định chủ thể sử dụng tài khoản điện tử, tài khoản mạng xã hội, số điện thoại hoặc tài khoản ngân hàng có liên quan đến hành vi phạm tội phải được căn cứ trên tổng hợp các tài liệu, chứng cứ của vụ án, bao gồm dữ liệu đăng nhập, lịch sử giao dịch, địa chỉ IP, dữ liệu định vị, thông tin thiết bị điện tử và các chứng cứ hợp pháp khác; không được chỉ căn cứ vào thông tin đăng ký tài khoản hoặc lời khai của người tham gia tố tụng”.
Trong không ít vụ án, dữ liệu trao đổi trực tiếp giữa các đối tượng đã bị xóa hoặc không còn khả năng phục hồi trước khi cơ quan tiến hành tố tụng tiếp cận được. Khi đó, việc chứng minh hành vi phạm tội thường phải dựa trên các dữ liệu gián tiếp như lịch sử chuyển tiền, dữ liệu cuộc gọi, dữ liệu phục hồi từ thiết bị điện tử hoặc lời khai của những người liên quan. Tuy nhiên, hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể về giá trị chứng minh của các nguồn dữ liệu này.
Do đó, cần làm rõ: “Trường hợp dữ liệu điện tử gốc không còn khả năng thu thập hoặc phục hồi thì cơ quan tiến hành tố tụng được sử dụng các dữ liệu điện tử gián tiếp và các chứng cứ hợp pháp khác để chứng minh sự tồn tại của dữ liệu đó; việc đánh giá phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện và được kiểm chứng bằng nhiều nguồn chứng cứ khác nhau”.
Trọng tâm của quá trình hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này cần hướng tới ba nội dung cơ bản: xác định giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử; xác định chủ thể thực hiện hành vi thông qua các tài khoản điện tử; và làm rõ điều kiện sử dụng các nguồn dữ liệu điện tử gián tiếp trong hoạt động chứng minh tội phạm. Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả giải quyết các vụ án về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trong môi trường số hiện nay.
Kết luận
Hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và không gian mạng, phương thức, thủ đoạn thực hiện loại tội phạm này ngày càng tinh vi, phức tạp, gây nhiều khó khăn cho hoạt động phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng Điều 341 BLHS và tăng cường các biện pháp phòng ngừa là yêu cầu cần thiết, góp phần bảo đảm trật tự quản lý hành chính nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
2. Dương Tuyết Miên (2019), Tội phạm học đương đại, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
3. Nguyễn Ngọc Hòa (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb. Tư Pháp, Hà Nội.
4. Nguyễn Ngọc Hòa (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
5. Trần Văn Biên - Đinh Thế Hưng (năm 2019), Bình luận khoa học BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Nxb. Thế Giới, Hà Nội.
6. TS. Nguyễn Đức Mai (chủ biên) (2018), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự hiện hành (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
7. Nguyễn Như Bích (2013), “Về việc xác định thẩm quyền xử lý đối với hành vi vi phạm về quản lý và sử dụng con dấu liên quan đến tranh chấp trong nội bộ công ty”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 13, tr. 23 - 36.
8. Nguyễn Thành Chung (2019), “Vướng mắc về định tội danh đối với tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức", tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"”, Tạp chí Kiểm sát, Số 9, tr. 53-58.
9. TAND Tối cao, Báo cáo tổng kết công tác năm 2021, 2022, 2023, 2024 và 06 tháng đầu năm 2025.
Tác giả bài viết: NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 9
Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn