Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP ngày 18/8/2026 hướng dẫn áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù của Nghị quyết số 29/2026/QH16 đối với vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, đồng thời nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/10/2026.
Điểm cần nhấn mạnh là Nghị quyết 04 không mặc nhiên miễn trách nhiệm hình sự. Theo Điều 2, chỉ khi vụ việc thuộc trường hợp được áp dụng cơ chế đặc thù của Nghị quyết 29 mà người thực hiện hành vi vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án mới xem xét áp dụng Nghị quyết 29 và Nghị quyết 04, nếu có đủ căn cứ.
Cơ chế này cũng phải được cá thể hóa. Một người thực hiện nhiều hành vi thì chỉ hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mới được xem xét; hành vi khác vẫn xử lý theo pháp luật. Trong vụ án có nhiều bị can, bị cáo, cũng chỉ người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mới thuộc diện áp dụng.
Không thể đình chỉ chỉ bằng một lời cam kết
Điều 4 yêu cầu Tòa án phải căn cứ vào các văn bản, tài liệu cụ thể khi xem xét đình chỉ. Trong đó phải xác định vụ án, vụ việc là vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng, xảy ra trước ngày 1/8/2024; đồng thời phải xác định có hay không có thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước và nếu có thì phải xác định cụ thể hậu quả thiệt hại.
Đối với trường hợp cần tạo điều kiện khắc phục hậu quả, Nghị quyết còn yêu cầu chứng minh khả năng, phương án và điều kiện khắc phục. Bản giải trình phải làm rõ nguyên nhân khách quan; bản cam kết phải kèm tài liệu chứng minh khả năng, phương án, lộ trình, biện pháp và thời hạn hoàn thành.
Vì vậy, khắc phục hậu quả không chỉ là việc thể hiện thiện chí, mà phải được chứng minh bằng khả năng và kết quả thực tế.
Khắc phục bao nhiêu, giảm hình phạt đến đâu?
Nghị quyết quy định mức giảm hình phạt gắn với tỷ lệ khắc phục hậu quả. Khắc phục đến 1/4 hậu quả có thể được giảm tối đa 1/4 mức hình phạt; trên 1/4 đến 1/2 có thể giảm tối đa 1/2; trên 1/2 đến 3/4 có thể giảm tối đa 2/3; trên 3/4 đến dưới toàn bộ có thể giảm tối đa 4/5 mức hình phạt.
Nhưng cần đặc biệt lưu ý chữ “có thể”. Đây không phải công thức máy móc: Tỷ lệ khắc phục chỉ là một căn cứ; Tòa án còn phải xem xét hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước và mức độ khắc phục tại thời điểm xét xử.
Ở giai đoạn thi hành án, người đã có bản án cũng có thể được xem xét hoãn, tạm đình chỉ, miễn chấp hành hình phạt hoặc giảm phần hình phạt còn lại nếu đáp ứng các điều kiện tương ứng. Ngược lại, người có khả năng, điều kiện khắc phục nhưng không khắc phục thì không được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù theo cơ chế này.
Chính sách đặc thù không đồng nghĩa với đặc cách
Nghị quyết 04 thể hiện chính sách xử lý đặc thù đối với một nhóm vi phạm đất đai nhất định, lấy hậu quả, mức độ khắc phục và hiệu quả kinh tế - xã hội làm những yếu tố quan trọng trong quá trình xem xét.
Nhưng chính sách đặc thù không phải là cơ chế áp dụng tùy nghi. Không phải cứ là vụ án đất đai, dự án đã hoàn thành hoặc bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả thì đương nhiên được đình chỉ, miễn trách nhiệm hay giảm hình phạt.
Điều cần xác định trước hết vẫn là: Vụ án có thuộc phạm vi điều chỉnh hay không; hành vi và người thực hiện có thuộc đối tượng hay không; hậu quả được xác định thế nào; mức độ khắc phục ra sao và các điều kiện theo Nghị quyết có được chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ hay không.
Đặc biệt, Nghị quyết yêu cầu các Tòa án khẩn trương rà soát các bản án có vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước ngày 1/8/2024 để thực hiện hiệu quả Nghị quyết 29.
Giá trị của Nghị quyết 04 không nằm ở việc “giảm án” bằng mọi giá, mà ở việc tạo ra một cơ chế pháp lý để xử lý phù hợp hơn những hậu quả của các vi phạm đất đai thuộc diện đặc thù. Vì vậy, điều quan trọng nhất khi áp dụng vẫn là: đúng đối tượng, đúng điều kiện, đúng chứng cứ và đúng thẩm quyền.
Tác giả bài viết: Luật sư HỒNG HÀ
Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:
Những tin cũ hơn