Một số bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành

Thứ tư - 24/06/2026 05:06

(LSVN) - Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 27/11/2015 và được sửa đổi, bổ sung qua các năm 2021, 2024 và 2025. Nhìn chung, BLTTHS ra đời đã bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, toàn diện của hệ thống pháp luật, các quy định của BLTTHS cơ bản là phù hợp với hiến pháp, có sự thống nhất với luật nội dung, luật tổ chức TAND và luật có liên quan, góp phần hoàn thiện cơ chế thủ tục trong việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Các quy định của BLTTHS, về cơ bản phù hợp với các giai đoạn tố tụng và cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền con người, quyền công dân. Góp phần tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm: các quy định về các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, thu thập chứng cứ, giám định, định giá tài sản… đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc điều tra, truy tố, xét xử; góp phần hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Bên cạnh đó, thông qua việc chuyển hoá, nội luật hoá các cam kết quốc tế và các điều ước quốc tế có liên quan về quyền con người, tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm BLTTHS còn thúc đẩy cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Ngoài ra, hệ thống mẫu biểu, thủ tục, thời hạn tố tụng, cơ chế phối hợp liên ngành tương đối đầy đủ, rõ ràng tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật và thực thi pháp luật trong thực tiễn.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành BLTTHS còn một số vướng mắc, hạn chế, bất cập như sau:

- Khoản 1 Điều 172 BLTTHS về thời hạn điều tra vụ án: Thời hạn điều tra vụ án còn chưa hợp lý khi có những vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng tính chất vụ án lại rất phức tạp cần thời hạn điều tra dài trong khi có nhiều vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng nhưng chứng cứ đầy đủ tính chất ít phức tạp thì thời hạn điều tra dài, đây là điểm bất hợp lý trong thời hạn điều tra.

Khoản 1 Điều 172 BLTTHS về thời hạn điều tra cần được sửa đổi, bổ sung như sau: “Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng kể từ ngày khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp thì thời hạn này là không quá 03 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

- Điều 240 về thời hạn truy tố: Tương tự như trên, tiêu chí liên quan đến tính chất phức tạp của vụ án chưa được chú trọng trong việc thiết kế các quy định về thời hạn tố tụng do đó, sẽ có những vụ án có tính chất nghiêm trọng rất nghiêm trọng nhưng chứng cứ đầy đủ số bị can ít, vụ án ít phức tạp nhưng thời hạn ra quyết định truy tố kéo dài không cần thiết. Do đó, cần sửa đổi Điều 240 BLTTHS theo hướng: Quy định thời hạn truy tố chung cho các loại tội phạm là 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của cơ quan điều tra; đối với những vụ án có tính chất phức tạp, cần có thời gian dài hơn cho việc truy tố thì có thể gia hạn nhưng không quá 20 ngày.

- Điều 147 thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố: Quy định thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tối đa là 4 tháng là chưa phù hợp, nhất là các tố giác, tin báo về tội phạm tham nhũng, kinh tế, chức vụ, môi trường có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm, hay đối với trường hợp đối tượng đang ở nước ngoài, vắng mặt tại nơi cư trú hoặc cần trưng cầu giám định. Vì vậy, cần tăng thời hạn này tối đa đến 06 tháng đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp; có yếu tố nước ngoài liên quan đến nhiều quốc gia, nhiều lĩnh vực, phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm.

- Về kết thúc điều tra và giao kết luận điều tra: Điều 232 quy định Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra kết luận điều tra, quyết định đình chỉ điều tra, cơ quan này phải giao cho bị can trong khi đối tượng này có nhiều trường hợp cư trú ở vùng sâu vùng xa, đi lại khó khăn điều này gây áp lực và khó khăn trong cho cơ quan điều tra. Do đó, cần sửa đổi Điều 232 BLTTHS theo hướng đối với những trường hợp này thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 05 ngày, kể từ ngày ra các quyết định.

- Về thời hạn cho người bào chữa gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam: BLTTHS không quy định cụ thể về thời lượng để người bào chữa được gặp mặt, trao đổi thông tin với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, nên người bào chữa thường không có đủ thời gian để thực hiện việc này do các cuộc gặp trong giai đoạn điều tra phụ thuộc vào quyền quyết định của cơ quan điều tra. Do vậy, cần bổ sung quy định số lần và thời gian mỗi lần cho người bào chữa gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự

- Quy định về hỏi cung bị can: Điều 183 Quy định việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác có thể được ghi âm, ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (khoản 6 Điều 183). Tuy nhiên, trên thực tế việc hiểu và áp dụng quy định trên không thống nhất; không có quy định hướng dẫn cụ thể trường hợp nào thì yêu cầu được cơ quan điều tra chấp nhận, trường hợp nào không; căn cứ để chấp nhận yêu cầu; nếu được chấp nhận thì quy trình thực hiện như thế nào. Do vậy, cần sửa đổi Điều 183 về việc hỏi cung bị can ghi âm, ghi hình có âm thanh theo hướng thu hẹp trường hợp áp dụng là chỉ đối với bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bị can kêu oan, bị can không nhận tội và buổi hỏi cung không có người bào chữa.

Trên đây là một số ưu điểm và tổn tại của BLTTHS, cần được xem xét sửa đổi bổ sung trong thời gian sớm nhất để đáp ứng yêu cầu thực tiễn thi hành nhất là trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động phức tạp như: Tội phạm công nghệ cao, rửa tiền, tài trợ khủng bổ, tội phạm xuyên quốc gia sẽ gia tăng đặc biệt trên các nền tảng số như Facebook, Zalo, Google…; yêu cầu về tăng cường hợp tác quốc tế và thực thi các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên (như CPTPP), trong đó có yêu cầu nội luật hoá, chuyển hoá các quy phạm pháp luật để phù hợp với các cam kết quốc tế đã ký kết. Xu hướng mô hình tố tụng tranh tụng phổ biến trên thế giới yêu cầu sự bình đẳng giữa bên buộc tội và gỡ tội và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Bối cảnh trong nước: Đứng trước công cuộc cải cách tư pháp đi vào thực chất, chiều sâu và công cuộc chuyển đổi số, xét xử trực tuyến trong hoạt động tố tụng cần có cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng như đào tạo con người để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; tội phạm ngày càng tinh vi phức tạp đặc biệt trong lĩnh vực số, ngân hàng, bảo hiểm, tội phạm công nghệ cao. Trước những yêu cầu đó, càn thiết đặt ra đối với việc xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) nhất là trong việc thể chế hoá đầy đủ chủ trương của Đảng và nhà nước về cải cách tư pháp; bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật; đảm bảo tranh tụng và bảo vệ quyền con người; tăng cường hợp tác quốc tế; khắc phục được các vướng mắc từ thực tiễn, bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất và lâu dài.

Tác giả bài viết: HỒ QUÂN Tòa án Quân sự khu vực quân khu 4.

Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ĐỐI TÁC CỦA LUẬT PHÁP LÝ
ngan háng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây