Trong bối cảnh Thông tư số 46/2019/TT-BCA cụ thể hóa trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa ở giai đoạn điều tra và Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC đặt quyền bào chữa vào nhóm điều kiện của tố tụng vắng mặt, yêu cầu đặt ra không còn dừng ở việc 'có người bào chữa', mà phải hướng tới một sự bào chữa độc lập, thực chất và hiệu quả.
Quyền bào chữa trong cấu trúc bảo đảm công bằng của tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, quyền lực nhà nước được sử dụng với cường độ đặc biệt: một cá nhân có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử và chịu những hình phạt nghiêm khắc nhất. Vì vậy, tính chính đáng của hoạt động tố tụng không chỉ được đo bằng khả năng phát hiện và xử lý tội phạm, mà còn bằng năng lực phòng ngừa oan, sai, kiểm soát quyền lực và bảo đảm quyền con người. Quyền bào chữa, xét từ góc độ đó, vừa là quyền tố tụng của người bị buộc tội, vừa là một thiết chế kiểm soát tính hợp pháp và tính có căn cứ của hoạt động buộc tội.
Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) đặt quyền bào chữa trong một chỉnh thể gồm suy đoán vô tội, trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bảo đảm quyền bào chữa và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Mối liên hệ này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng: người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội; nhưng để khả năng phản bác sự buộc tội không chỉ tồn tại trên giấy, pháp luật phải bảo đảm cho họ được tự bào chữa hoặc được trợ giúp bởi người bào chữa có năng lực nghề nghiệp.
Trong cấu trúc đó, Điều 76 BLTTHS là một ngoại lệ có chủ đích đối với nguyên tắc lựa chọn người bào chữa. Thông thường, việc nhờ ai bào chữa thuộc quyền quyết định của người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 76 quy định: nếu những chủ thể này không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa trong hai nhóm trường hợp. Nhóm thứ nhất là bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Nhóm thứ hai là người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa, người có nhược điểm về tâm thần hoặc người dưới 18 tuổi.
Điểm cốt lõi của khoản 1 Điều 76 nằm ở từ “phải”. Đây không phải quyền tùy nghi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hay Tòa án. Khi đồng thời tồn tại hai dữ kiện pháp lý – vụ việc thuộc một trong các trường hợp luật định và người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích không mời người bào chữa – nghĩa vụ chỉ định phát sinh. Vì thế, bào chữa chỉ định phải được nhìn nhận là một bảo đảm bắt buộc của thủ tục tố tụng, chứ không phải một hoạt động hỗ trợ mang tính thiện chí.
Đối với điểm a khoản 1 Điều 76, tiêu chí luật định là “mức cao nhất của khung hình phạt”, không phải mức hình phạt mà Kiểm sát viên dự kiến đề nghị hay mức án mà Tòa án có thể tuyên. Việc xác định nghĩa vụ chỉ định vì vậy phải đi từ tội danh, điều luật, khoản cụ thể được áp dụng đến mức cao nhất của chính khung hình phạt đó. Cách thiết kế này phản ánh nguyên lý: mức độ rủi ro pháp lý càng lớn thì cường độ bảo đảm tố tụng càng phải cao.
Đối với điểm b khoản 1 Điều 76, cơ sở của bào chữa bắt buộc không nằm ở mức hình phạt mà ở năng lực tự bảo vệ. Người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc nhược điểm về thể chất đến mức không thể tự bào chữa là những chủ thể mà sự bình đẳng hình thức trước cơ quan buộc tội chưa đủ tạo nên bình đẳng thực chất. Chỉ định người bào chữa trong trường hợp này chính là cơ chế bù đắp sự bất lợi về khả năng nhận thức, giao tiếp hoặc tự thực hiện quyền tố tụng.
Khoản 2 Điều 76 tiếp tục thiết kế cơ chế tổ chức để hiện thực hóa nghĩa vụ đó. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn Luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa; Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư đối với người thuộc diện trợ giúp pháp lý; hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên cử bào chữa viên nhân dân đối với thành viên của tổ chức mình. Như vậy, Điều 76 không chỉ quy định một quyền cá nhân mà còn kiến tạo một chuỗi trách nhiệm thể chế: cơ quan tố tụng kích hoạt – tổ chức có thẩm quyền phân công – người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa.
Điều 76 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017: Chỉ định người bào chữa
1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa;
b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
Đáng chú ý, việc được chỉ định không làm thay đổi bản chất pháp lý của chức năng bào chữa. Luật sư được cử không phải là “luật sư của cơ quan tố tụng”, cũng không phải chủ thể được đưa vào hồ sơ để hợp thức hóa một thủ tục. Từ khi tham gia tố tụng, luật sư thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người bào chữa theo Chương V BLTTHS: sử dụng các biện pháp hợp pháp để làm sáng tỏ tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; thu thập, đưa ra và kiểm tra chứng cứ; đề nghị thu thập chứng cứ; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu theo luật định; tham gia hỏi, tranh luận và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng.
Từ đây cần phân biệt hai khái niệm thường bị đồng nhất trong thực tiễn: “đã chỉ định người bào chữa” và “đã bảo đảm quyền bào chữa”. Chỉ định là hành vi pháp lý mở đầu; bảo đảm quyền bào chữa là cả một quá trình. Nếu luật sư được cử quá muộn, không có đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ, không được báo trước hoạt động tố tụng mà mình có quyền tham gia, hoặc sự tham gia chỉ mang tính hình thức thì sự hiện diện của tên luật sư trong hồ sơ chưa thể tự thân chứng minh quyền bào chữa đã được bảo đảm thực chất.
Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an làm rõ thêm trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện BLTTHS liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa. Văn bản yêu cầu khi tiếp nhận hoặc giao các lệnh, quyết định tố tụng liên quan, người có trách nhiệm phải đọc, giải thích quyền, nghĩa vụ và ghi rõ ý kiến về việc nhờ người bào chữa; đồng thời quy định trình tự chuyển yêu cầu, đăng ký bào chữa, thay đổi, từ chối người bào chữa. Đặc biệt, Điều 11 yêu cầu cơ quan đang thụ lý phải báo trước thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà người bào chữa có quyền tham gia, tối thiểu 24 giờ nếu cùng tỉnh, thành phố và 48 giờ nếu khác tỉnh, thành phố, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác.
Giá trị của Thông tư số 46/2019/TT-BCA nằm ở việc chuyển một nguyên tắc chung của BLTTHS thành những nghĩa vụ thao tác cụ thể của cơ quan điều tra và cơ sở giam giữ. Quyền bào chữa, theo cách tiếp cận này, không thể phụ thuộc vào việc người bị buộc tội có đủ hiểu biết để tự “đòi hỏi” hay không; cơ quan nhà nước phải chủ động giải thích, ghi nhận, chuyển yêu cầu và tạo điều kiện để người bào chữa tham gia. Đó là biểu hiện của nghĩa vụ tích cực của Nhà nước trong bảo đảm quyền tố tụng.
Một bước phát triển đáng chú ý xuất hiện trong Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/7/2025 về phối hợp điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo. Ngay tại Điều 3, Thông tư xác định nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền bào chữa và quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo; đồng thời yêu cầu việc tố tụng vắng mặt phải thận trọng, khách quan, chặt chẽ và không để xảy ra vi phạm, lạm dụng.
Quan trọng hơn, điểm b khoản 2 Điều 4 của Thông tư liên tịch số 05/2025 đặt việc bảo đảm quyền bào chữa vào nhóm điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng có thể ban hành kết luận điều tra đề nghị truy tố, cáo trạng và xét xử vắng mặt. Cơ quan đang thụ lý phải thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo về quyền nhờ người bào chữa; trường hợp họ không nhờ thì văn bản quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt theo Điều 76 BLTTHS.
Quy định này cần được đọc một cách thận trọng trong thứ bậc pháp luật. Thông tư liên tịch là văn bản hướng dẫn và phối hợp thực hiện BLTTHS, không thể tự mình mở rộng vô hạn phạm vi các trường hợp bắt buộc chỉ định vượt khỏi luật. Tuy nhiên, trong phạm vi tố tụng vắng mặt mà BLTTHS và Thông tư liên tịch điều chỉnh, quy định trên thể hiện rất rõ một tư tưởng lập pháp và áp dụng pháp luật: sự vắng mặt của bị can, bị cáo không làm suy giảm yêu cầu bảo đảm quyền bào chữa; trái lại, vì họ không thể trực tiếp thực hiện đầy đủ quyền tự bào chữa, cơ chế bảo đảm từ phía Nhà nước phải được vận hành nghiêm ngặt hơn. Việc xác định cụ thể trường hợp nào phát sinh nghĩa vụ chỉ định vẫn phải được đối chiếu đồng bộ với Điều 76 và các quy định liên quan của BLTTHS.
Điều đó càng có ý nghĩa bởi tố tụng vắng mặt làm suy giảm một kênh phản biện trực tiếp rất quan trọng. Bị can, bị cáo không hiện diện để giải thích chứng cứ, trực tiếp đưa ra yêu cầu hoặc đối đáp với quan điểm buộc tội. Vì vậy, không thể suy diễn sự vắng mặt hoặc việc bỏ trốn thành chứng cứ có tội. Thông tư liên tịch số 05/2025 vẫn yêu cầu phải thu thập đủ chứng cứ, tài liệu để làm rõ các vấn đề phải chứng minh theo Điều 85 BLTTHS và đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo đã thực hiện tội phạm. Chứng minh điều kiện tố tụng vắng mặt và chứng minh trách nhiệm hình sự là hai nghĩa vụ chứng minh khác nhau.
Ở phiên tòa vắng mặt, vai trò của người bào chữa càng nổi bật. Thông tư liên tịch số 05/2025 quy định người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của bị cáo vắng mặt được phát biểu ý kiến, đưa ra tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và đọc bản tự bào chữa của bị cáo nếu có. Khi quyền tự bào chữa không thể được thực hiện trực tiếp, hoạt động nghề nghiệp của luật sư trở thành một trong những cơ chế chủ yếu duy trì sự đối trọng cần thiết giữa buộc tội và bào chữa.
Từ góc độ hậu quả pháp lý, việc không chỉ định người bào chữa trong trường hợp bắt buộc không nên bị giản lược thành một thiếu sót hành chính. BLTTHS xác định vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ trình tự, thủ tục do luật quy định mà xâm hại nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án. Vì vậy, khi nghĩa vụ bào chữa bắt buộc bị vi phạm, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá thực chất mức độ xâm hại quyền bào chữa và ảnh hưởng của vi phạm đối với tính hợp pháp, khách quan của quá trình giải quyết vụ án, thay vì chỉ kiểm tra xem hồ sơ có hay không một văn bản cử luật sư.
Cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng và Đoàn Luật sư
Nếu khoản 1 Điều 76 xác định những trường hợp phải có người bào chữa thì khoản 2 chính là “cầu nối thể chế” để nghĩa vụ đó được thực hiện. Đối với luật sư, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không trực tiếp lựa chọn một cá nhân luật sư theo ý chí của mình mà yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn Luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa. Cách thiết kế này vừa đáp ứng yêu cầu kịp thời của tố tụng, vừa duy trì khoảng cách cần thiết giữa cơ quan buộc tội, xét xử với chủ thể thực hiện chức năng bào chữa.
Đoàn Luật sư vì thế giữ một vị trí đặc thù. Đoàn không phải cơ quan tiến hành tố tụng và không chịu trách nhiệm chứng minh tội phạm; nhưng trong cơ chế Điều 76, Đoàn là mắt xích bảo đảm để quyền bào chữa bắt buộc được hiện thực hóa bằng một luật sư cụ thể. Trách nhiệm này không nên được hiểu hẹp là tiếp nhận công văn rồi chuyển cho một tổ chức hành nghề. Nếu việc phân công chậm trễ, thiếu tiêu chí hoặc không tính đến tính chất vụ án, mục tiêu bảo đảm quyền bào chữa có thể bị suy giảm ngay từ khâu tổ chức.
Trước hết, cần chuẩn hóa cơ chế tiếp nhận và phản hồi yêu cầu chỉ định. Yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án nên thể hiện đầy đủ căn cứ chỉ định, giai đoạn tố tụng, tội danh và khung hình phạt đang áp dụng, tình trạng của người bị buộc tội, thời hạn dự kiến của hoạt động tố tụng, đầu mối liên hệ và những thông tin cần thiết để Đoàn Luật sư có thể phân công phù hợp. Về phía Đoàn Luật sư, cần có đầu mối thường trực và cơ chế phản hồi nhanh, có khả năng xử lý cả những trường hợp phát sinh ngoài giờ hành chính khi quyền bào chữa cần được bảo đảm khẩn trương.
Thứ hai, nên xây dựng danh sách luật sư tham gia bào chữa theo chỉ định trên cơ sở tự nguyện, năng lực và kinh nghiệm chuyên môn, thay vì luân phiên cơ học. Vụ án có mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân hoặc tử hình, vụ án có người dưới 18 tuổi, người có hạn chế về tâm thần, thể chất, vụ án có yếu tố nước ngoài hoặc xét xử vắng mặt đều đòi hỏi những kỹ năng khác nhau. Bình đẳng trong phân công không có nghĩa là bỏ qua sự phù hợp chuyên môn.
Thứ ba, cần coi thời gian chuẩn bị bào chữa là một bộ phận của quyền bào chữa. Thông tư số 46/2019/TT-BCA đã quy định thời hạn báo trước đối với những hoạt động tố tụng mà người bào chữa có quyền tham gia. Tuy nhiên, đối với vụ án có hàng nghìn bút lục, thời hạn thông báo tối thiểu về một hoạt động tố tụng không đồng nghĩa với thời gian hợp lý để nghiên cứu toàn bộ hồ sơ. Cơ quan tố tụng và Đoàn Luật sư cần phối hợp từ sớm để luật sư được đăng ký, tiếp cận tài liệu và chuẩn bị luận cứ trong thời gian thực chất, nhất là khi việc chỉ định phát sinh ở giai đoạn truy tố hoặc xét xử.
Thứ tư, cần làm rõ hơn quy trình xử lý việc thay đổi hoặc từ chối người bào chữa chỉ định. Đây là điểm giao thoa giữa quyền tự định đoạt của người bị buộc tội và nghĩa vụ bảo đảm bắt buộc của Nhà nước. Thông tư số 46/2019/TT-BCA đã cụ thể hóa việc xác nhận từ chối và trách nhiệm thông báo cho cơ quan đã cử người. Trong thực tiễn, mọi sự từ chối phải được xác lập tự nguyện, minh bạch, đúng chủ thể và đúng thủ tục; không thể biến “từ chối luật sư” thành một phương thức làm mất đi bảo đảm mà Điều 76 thiết lập cho nhóm người dễ bị tổn thương hoặc phải đối diện rủi ro hình phạt đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ năm, đối với tố tụng vắng mặt, cần có quy trình phối hợp riêng. Đoàn Luật sư khi phân công nên được cung cấp thông tin về căn cứ xác định bị can, bị cáo vắng mặt, tình trạng truy nã hoặc ở nước ngoài, thông tin về người đại diện và người thân thích, cũng như thời điểm dự kiến kết thúc điều tra, truy tố hoặc mở phiên tòa. Người bào chữa cần có điều kiện tiếp xúc với người đại diện, người thân thích, thu thập tài liệu từ các nguồn hợp pháp và kiểm tra kỹ chứng cứ về cả hai nhóm vấn đề: căn cứ buộc tội và căn cứ áp dụng thủ tục vắng mặt.
Thứ sáu, cần xây dựng chuẩn chất lượng tối thiểu đối với bào chữa theo chỉ định nhưng tuyệt đối không biến chuẩn chất lượng thành cơ chế can thiệp vào quan điểm bào chữa. Đoàn Luật sư có thể yêu cầu về tính chuyên cần và trách nhiệm nghề nghiệp: nghiên cứu hồ sơ, tham gia hoạt động tố tụng cần thiết, chuẩn bị luận cứ, thực hiện tranh tụng, tuân thủ quy tắc đạo đức và báo cáo việc hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ phù hợp. Nhưng nội dung chiến lược bào chữa, đánh giá chứng cứ và quan điểm pháp lý phải thuộc phạm vi độc lập nghề nghiệp của luật sư.
Thứ bảy, cơ chế thù lao và thanh toán chi phí cho người bào chữa được chỉ định cần tương xứng hơn với tính chất của công việc. Một thiết chế bảo đảm quyền con người không thể vận hành bền vững nếu phụ thuộc chủ yếu vào tinh thần trách nhiệm xã hội của luật sư. Khối lượng nghiên cứu hồ sơ, số lần tham gia hỏi cung, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, thời gian tham gia phiên tòa và tính phức tạp của vụ án cần được phản ánh hợp lý trong cơ chế bảo đảm kinh phí.
Thứ tám, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư cần tăng cường đào tạo chuyên đề về bào chữa bắt buộc và tố tụng vắng mặt. Đây không chỉ là đào tạo kỹ năng tranh tụng mà còn là đào tạo về kiểm tra tính hợp pháp của chứng cứ, nhận diện vi phạm thủ tục, bảo vệ người chưa thành niên và người có hạn chế về khả năng tự bào chữa, tương trợ tư pháp, dẫn độ, cũng như phương pháp bào chữa khi không thể trực tiếp trao đổi với thân chủ.
Ở chiều ngược lại, cơ quan tiến hành tố tụng cũng cần nhận thức rằng Đoàn Luật sư và luật sư được chỉ định không phải là chủ thể “phối hợp” theo nghĩa cùng thực hiện chức năng buộc tội. Sự phối hợp đúng đắn là phối hợp về điều kiện, thủ tục và thông tin cần thiết để luật sư thực hiện chức năng của mình; còn trong đánh giá chứng cứ và tranh tụng, tính độc lập của người bào chữa phải được tôn trọng. Chính sự khác biệt chức năng này mới tạo ra giá trị kiểm soát và giúp phán quyết tư pháp có sức thuyết phục.
Từ Điều 76 BLTTHS, Thông tư số 46/2019/TT-BCA đến Thông tư liên tịch số 05/2025 có thể nhận thấy một đường hướng nhất quán: pháp luật đang chuyển dần từ việc ghi nhận quyền bào chữa sang thiết lập những nghĩa vụ tích cực để quyền đó có thể được thực hiện. Điều 76 xác định khi nào Nhà nước phải bảo đảm có người bào chữa; Thông tư số 46/2019 cụ thể hóa nhiều thao tác bảo đảm sự tham gia của người bào chữa trong hoạt động điều tra; còn Thông tư liên tịch số 05/2025 làm nổi bật yêu cầu bảo đảm quyền bào chữa trong một bối cảnh đặc biệt – điều tra, truy tố và xét xử vắng mặt.
Tuy nhiên, bước phát triển tiếp theo phải là chuyển từ tiêu chuẩn “có luật sư” sang tiêu chuẩn “bào chữa hiệu quả”. Một quyết định phân công, một thông báo đăng ký bào chữa hay sự có mặt hình thức tại phiên tòa chưa phải đích đến của Điều 76. Đích đến phải là khả năng người bào chữa thực sự kiểm tra chứng cứ, đưa ra chứng cứ và yêu cầu, phản biện quan điểm buộc tội, phát hiện vi phạm tố tụng và trình bày một phương án bảo vệ có căn cứ cho người bị buộc tội.
Trong Nhà nước pháp quyền, luật sư không làm suy yếu hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm khi thực hiện mạnh mẽ chức năng bào chữa. Ngược lại, một nền bào chữa độc lập và có chất lượng giúp hoạt động buộc tội được kiểm nghiệm, giúp Tòa án có thêm cơ sở để đánh giá khách quan và làm giảm nguy cơ oan, sai. Vì vậy, trách nhiệm của Đoàn Luật sư trong cơ chế chỉ định không chỉ là trách nhiệm nội bộ của một tổ chức nghề nghiệp, mà còn gắn với chất lượng của công lý hình sự.
Có thể khẳng định, Điều 76 BLTTHS chứa đựng một triết lý bảo đảm quyền rất rõ: ở nơi người bị buộc tội đứng trước nguy cơ pháp lý đặc biệt nghiêm trọng hoặc không đủ khả năng tự bảo vệ hữu hiệu, Nhà nước không thể thụ động chờ họ tự tìm kiếm sự trợ giúp. Nhà nước phải chủ động kích hoạt cơ chế bào chữa. Nhưng để cơ chế ấy không dừng ở hình thức, cần sự phối hợp đúng chức năng giữa cơ quan tiến hành tố tụng và Đoàn Luật sư, cùng với trách nhiệm nghề nghiệp độc lập của luật sư được cử.
Bởi vậy, hoàn thiện chế định chỉ định người bào chữa trong giai đoạn hiện nay cần được đặt trên ba trụ cột: xác định đúng và kịp thời trường hợp bắt buộc; bảo đảm đầy đủ điều kiện để người bào chữa thực hiện chức năng; và xây dựng cơ chế phân công, phối hợp, đào tạo, giám sát nghề nghiệp phù hợp nhưng không xâm phạm tính độc lập của luật sư. Khi ba trụ cột này được vận hành đồng bộ, Điều 76 mới thực sự chuyển hóa từ một quy phạm thủ tục thành một bảo đảm hữu hiệu của quyền con người và tố tụng công bằng.
(Bài viết thể hiện quan điểm nghiên cứu của tác giả, từ các nguồn tài liệu nghiên cứu chính: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đặc biệt Điều 16, Chương V và Điều 76); Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an; Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/7/2025).
Tác giả bài viết: Thạc sĩ, Luật sư, Nhà báo NGUYỄN VĂN LÝ Chánh Văn phòng Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An.
Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:
Những tin cũ hơn