1. Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự [1]
Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định trong Bộ luật Hình sự, tuy nhiên hiện nay chưa có quy phạm định nghĩa thuật ngữ này. Trong khoa học pháp lý, miễn trách nhiệm hình sự đã được nghiên cứu, luận giải với nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung có sự thống nhất về nội dung cốt lõi. Theo đó, miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà người đó đã thực hiện [2].
Điều 29 Bộ luật Hình sự quy định các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự, bao gồm trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 1) và trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 2 và khoản 3), cụ thể:
1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi có quyết định đại xá.
2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Bên cạnh đó, Điều 16 Bộ luật Hình sự quy định: người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm nếu hành vi thực tế không cấu thành một tội phạm khác [3].
Ngoài Điều 29 và Điều 16, Bộ luật Hình sự còn quy định việc miễn trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh cụ thể, gồm: Tội đưa hối lộ, Tội môi giới hối lộ, Tội gián điệp, Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy và Tội không tố giác tội phạm.[4] Chẳng hạn, người môi giới hối lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Như vậy, Bộ luật Hình sự quy định việc miễn trách nhiệm hình sự trong nhiều trường hợp với những căn cứ khác nhau, trong đó có trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và có trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Vấn đề đặt ra là các quy định này được áp dụng như thế nào trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
2. Miễn trách nhiệm hình sự: Có phải chỉ được áp dụng sau khi khởi tố vụ án?
Một vấn đề đặt ra là việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự có nhất thiết chỉ được thực hiện sau khi vụ án hình sự đã được khởi tố hay không.
Xét các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm a khoản 1 và các điểm a, b khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự, các căn cứ này đều được gắn với các giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử. Vì vậy, đối với các trường hợp này, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra sau khi vụ án đã được khởi tố.
Tuy nhiên, vấn đề lại không hoàn toàn rõ ràng đối với điểm b khoản 1, điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 29, vì các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự này không được gắn với một giai đoạn tố tụng cụ thể. Tương tự, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 16 và tại một số điều luật quy định về các tội phạm cụ thể cũng không được gắn với một giai đoạn tố tụng cụ thể.
Từ cách quy định này, có thể có quan điểm cho rằng việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự không nhất thiết chỉ được đặt ra sau khi vụ án đã được khởi tố. Tuy nhiên, cách hiểu này cần được xem xét trong mối liên hệ với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự [5].
Xét trong mối liên hệ đó, các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự và các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự là hai nhóm căn cứ riêng biệt; trường hợp đại xá[6] là điểm giao thoa duy nhất. Điểm b khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự quy định “khi có quyết định đại xá” là căn cứ miễn trách nhiệm hình sự, trong khi khoản 6 Điều 157 quy định “tội phạm đã được đại xá” là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Mặc dù có cách diễn đạt khác nhau, cả hai quy định đều gắn với trường hợp đại xá. Tuy nhiên, đây chỉ là trường hợp cả hai quy định cùng đề cập đến đại xá, chứ không phải trường hợp Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự dẫn chiếu việc áp dụng căn cứ miễn trách nhiệm hình sự.
Theo quan điểm của bài viết, trong trường hợp một tình huống đồng thời đáp ứng căn cứ không khởi tố vụ án hình sự và căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thì cần ưu tiên áp dụng căn cứ không khởi tố vụ án theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu vụ án đã được khởi tố thì áp dụng Điều 158 Bộ luật này để hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Xét từ góc độ quy định về việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ dẫn chiếu đến các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 16 hoặc Điều 29 Bộ luật Hình sự trong các quy định về giải quyết vụ án sau khi đã khởi tố, như đình chỉ điều tra, không truy tố và đình chỉ vụ án; đồng thời, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự còn được quy định trong hoạt động xét xử. Việc áp dụng này sẽ được phân tích cụ thể tại mục 3.
Đáng chú ý, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đang đề xuất bổ sung căn cứ không khởi tố vụ án đối với “người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình sự” [7]. Đây là một điểm mới đáng quan tâm khi Dự thảo dẫn chiếu trực tiếp các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự để làm căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Theo đó, nếu được thông qua, căn cứ miễn trách nhiệm hình sự có thể được dẫn chiếu áp dụng ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Như vậy, theo cơ chế tố tụng hiện hành, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự được thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án ở các giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử, tức là sau khi vụ án đã được khởi tố.
3. Áp dụng miễn trách nhiệm hình sự trong các giai đoạn tố tụng
3.1. Giai đoạn điều tra
Trong giai đoạn điều tra, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự, nếu có, được thể hiện thông qua quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra. Theo điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Như vậy, khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 Bộ luật Hình sự, quyết định đình chỉ điều tra là quyết định tố tụng thể hiện việc áp dụng. Tuy nhiên, đình chỉ điều tra còn có thể được ban hành trên những căn cứ khác. Do đó, để xác định một trường hợp đình chỉ điều tra có phải trên cơ sở miễn trách nhiệm hình sự hay không, cần xem xét căn cứ pháp lý của quyết định đó.
3.2. Giai đoạn truy tố
Trong giai đoạn truy tố, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự, nếu có, được thể hiện thông qua quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát. Theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Như vậy, khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 Bộ luật Hình sự, quyết định đình chỉ vụ án là quyết định tố tụng thể hiện việc áp dụng.
Bên cạnh đó, ngay cả khi đã quyết định truy tố, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự còn có thể được thể hiện thông qua việc Viện kiểm sát rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án. Theo Điều 285 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi xét thấy có căn cứ theo Điều 16 hoặc Điều 29 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.
Tuy nhiên, việc quyết định không truy tố, ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc việc rút quyết định truy tố không chỉ được thực hiện trên cơ sở áp dụng miễn trách nhiệm hình sự mà còn có thể xuất phát từ những căn cứ pháp lý khác. Vì vậy, để xác định một trường hợp cụ thể có được giải quyết trên cơ sở miễn trách nhiệm hình sự hay không, cần xem xét căn cứ pháp lý được áp dụng.
3.3. Giai đoạn xét xử
Trong giai đoạn xét xử, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự được thể hiện thông qua bản án hoặc quyết định tố tụng tương ứng của Hội đồng xét xử. Theo điểm đ khoản 3 Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự, một trong những vấn đề Hội đồng xét xử phải giải quyết khi nghị án là xác định bị cáo có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hay không.
Trường hợp Hội đồng xét xử áp dụng miễn trách nhiệm hình sự, nội dung này được thể hiện trong bản án; tùy từng trường hợp, có thể dẫn đến những hệ quả tố tụng khác, trong đó có việc trả tự do ngay tại phiên tòa đối với bị cáo đang bị tạm giam theo Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự có thể được thể hiện thông qua việc Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng có thể hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại nếu việc miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo không có căn cứ theo điểm d khoản 2 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định việc áp dụng các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong quá trình giải quyết vụ án ở các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Ở mỗi giai đoạn, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự gắn với thẩm quyền và hình thức giải quyết tố tụng tương ứng.
4. Bàn về cụm từ “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự”
4.1. Cách sử dụng cụm từ “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự”
Cụm từ “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự” hiện chưa được Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự sử dụng. Tuy nhiên, cụm từ này vẫn được sử dụng khá phổ biến trong ngôn ngữ thường ngày và trên truyền thông, báo chí [8].
Cụm từ này cũng xuất hiện trong một số tài liệu xây dựng pháp luật. Có tài liệu sử dụng cụm từ “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự”, nhưng nội dung quy phạm được đề xuất lại sử dụng thuật ngữ “miễn trách nhiệm hình sự” [9]. Đáng chú ý, trong một tài liệu khác thuộc hồ sơ xây dựng dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), cụm từ “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự” lại được sử dụng để chỉ một loại bản án mà Tòa án có thể tuyên đối với bị cáo [10].
Cách sử dụng này cho thấy cụm từ “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự” đang được dùng trong những bối cảnh khác nhau. Tuy nhiên, khi đặt bên cạnh chế định miễn trách nhiệm hình sự và các quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự, việc sử dụng cụm từ này cần được xem xét thấu đáo.
4.2. “Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự” trong tương quan với các quy định về truy cứu và không truy cứu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự
Bộ luật Hình sự sử dụng trực tiếp các thuật ngữ “truy cứu trách nhiệm hình sự” và “không truy cứu trách nhiệm hình sự” trong các quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
Cụ thể, Điều 368 quy định Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, theo đó, hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà người có thẩm quyền biết rõ là không có tội bị coi là tội phạm. Ngược lại, Điều 369 quy định Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, theo đó, hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà người có thẩm quyền biết rõ là có tội cũng bị coi là tội phạm.
Theo Từ điển tiếng Việt, “miễn” được hiểu là “không phải chịu, không phải làm” [11] điều mà đáng lẽ phải chịu, phải làm. Đối chiếu cách hiểu này với các quy định nêu trên có thể thấy, Bộ luật Hình sự đã sử dụng các cụm từ “truy cứu trách nhiệm hình sự” và “không truy cứu trách nhiệm hình sự” để mô tả hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, mà trong những trường hợp nhất định, việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi đó có thể bị coi là tội phạm. Do đó, việc ghép thêm từ “miễn” với cụm từ “truy cứu trách nhiệm hình sự” thành cụm từ “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự” là cách diễn đạt thiếu chính xác về mặt pháp lý.
Cụm từ này có thể tạo ra cách hiểu rằng đây là một trường hợp đặc biệt của việc không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc một trạng thái pháp lý khác với việc truy cứu và không truy cứu trách nhiệm hình sự, trong khi pháp luật hình sự hiện hành không xác lập một cơ chế pháp lý như vậy.
Đồng thời, cụm từ này cũng có thể dẫn đến sự nhầm lẫn giữa trường hợp được áp dụng miễn trách nhiệm hình sự với trường hợp không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự [12] hoặc trường hợp không tiếp tục việc truy cứu trách nhiệm hình sự do có căn cứ pháp lý khác [13].
Từ những phân tích trên, bài viết khuyến nghị không sử dụng cụm từ “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự” như một thuật ngữ pháp lý vì thiếu chính xác và có thể gây nhầm lẫn.
[1] Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025);
[2] Đề tài khoa học cấp Bộ “Xây dựng và chuẩn hóa các thuật ngữ Luật Hình sự phục vụ việc sửa đổi cơ bản, toàn diện Bộ luật hình sự Việt Nam”, GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ nhiệm, Hà Nội, 2014: Mục 1.2 Chuyên đề 3 “Đánh giá việc sử dụng thuật ngữ luật hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam và trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan”, TS. Nguyễn Văn Hương thực hiện; Xem thêm Mục 2.1 Chuyên đề 4 “Đánh giá việc sử dụng các thuật ngữ luật hình sự trong các tài liệu nghiên cứu, giảng dạy của Việt Nam trong thời gian gần đây”, TS. Nguyễn Tuyết Mai thực hiện;
[3] Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
[4] Khoản 7 Điều 364. Tội đưa hối lộ: “7. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.”
Khoản 6 Điều 365. Tội môi giới hối lộ: “6. Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
Khoản 4 Điều 110. Tội gián điệp: “4. Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội này.”
Khoản 4 Điều 247. Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy: “4. Người nào phạm tội thuộc khoản 1 Điều này, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
Khoản 2 Điều 390. Tội không tố giác tội phạm: “2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”
[5] Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025);
[6] Đại xá là trường hợp đặc biệt và rất ít khi được áp dụng trong thực tiễn pháp luật Việt Nam; từ khi Hiến pháp năm 1980 được thông qua đến nay, chưa có trường hợp đại xá nào được thực hiện.
[7] Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự, Trang thông tin điện tử Dự thảo Online - Cổng thông tin điện tử Quốc hội, https://gatewayduthaoonline.quochoi.vn/uploadFiles/host/local/2026/7/17/15/c15ce283e56940f19a4d058630c068a4.pdf, truy cập ngày 19/08/2026,
"Điều 163. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự: Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau: ...9. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình sự."
[8] Báo điện tử Dân trí, "Được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự sau khi bị tuyên phạt 19 năm tù", https://dantri.com.vn/phap-luat/duoc-mien-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-sau-khi-bi-tuyen-phat-19-nam-tu-20200822081755618.htm, truy cập ngày 18/08/2026;
Báo điện tử Tuổi trẻ, "Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự do đã khắc phục hậu quả", https://tuoitre.vn/mien-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-do-da-khac-phuc-hau-qua-588932.htm, truy cập ngày 18/08/2026;
[9] “Tờ trình về dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)”, điểm a phần 3.2.2 Mục V, Trang thông tin điện tử Dự thảo Online - Cổng thông tin điện tử Quốc hội, https://duthaoonline.quochoi.vn/dt/bo-luat-to-tung-hinh-su-sua-doi/260717150155285777, truy cập ngày 19/08/2026: Đề xuất bổ sung 01 khoản (khoản 4) tại Điều 29 Bộ luật Hình sự 01 trường hợp miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; Đề nghị bổ sung khoản 4 tại Điều 29 của BLHS về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự như sau:
“4. Người thực hiện hành vi phạm tội, trừ các tội phạm tham nhũng, tội phạm có tổ chức, tội giết người, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có đủ các căn cứ sau: a) Tự nguyện, thành khẩn khai báo, thú nhận đầy đủ hành vi phạm tội; b) Hành vi phạm tội không gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; trường hợp gây thiệt hại thì người thực hiện hành vi phạm tội đã chủ động ngăn chặn, khắc phục toàn bộ hậu quả và bồi thường đầy đủ thiệt hại đã gây ra; c) Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, vụ việc; d) Vì lý do bảo đảm ổn định chính trị, kinh tế, trật tự, an toàn xã hội”.
[10] “Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách của dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)”, Dự thảo Hồ sơ chính sách của dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), Cổng Thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao, https://vksndtc.gov.vn/van-ban/van-ban-du-thao/du-thao-ho-so-chinh-sach-cua-du-an-bo-luat-to-tung-hinh-su-sua-doi-215.html, truy cập ngày 19/08/2026:
“+ Sửa các điều …297 BLTTHS hiện hành về tạm đình chỉ như sau:… Điều 297. Hoãn phiên tòa…3. Trong thời hạn hoãn phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này, Tòa án xử lý như sau: a) Trường hợp bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả thì Tòa án ra ngay bản án miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo theo quy định của Bộ luật này;…”.
[11] Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, 2021, tr. 799: "Miễn, đg. 1. Cho khỏi phải chịu, khỏi phải làm".
[12] Trong phạm vi bài viết, “không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự” được dùng để chỉ trường hợp thuộc một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[13] Trong phạm vi bài viết này, “không tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự do có căn cứ pháp lý khác” được hiểu là trường hợp, sau khi vụ án đã được khởi tố, cơ quan có thẩm quyền không tiếp tục việc truy cứu trách nhiệm hình sự không phải trên cơ sở căn cứ miễn trách nhiệm hình sự, mà do phát sinh hoặc phát hiện, làm rõ căn cứ pháp lý khác. Trường hợp này bao gồm việc người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc căn cứ quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự được phát hiện, làm rõ sau khi vụ án đã được khởi tố; chẳng hạn, sau khi khởi tố, trên cơ sở tài liệu, chứng cứ mới về độ tuổi, xác định chính xác người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Tác giả bài viết: Luật sư ĐẶNG KIM CHINH Luật sư NGUYỄN VŨ TUYẾT NGÂN Công ty Luật CNN Legal.
Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn