Biện pháp ngăn chặn 'Cấm đi khỏi nơi cư trú' trong tố tụng hình sự: Thực tiễn áp dụng, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện

Thứ hai - 10/11/2025 20:13

(LSVN) - Trong hệ thống biện pháp ngăn chặn tố tụng hình sự của nước ta, biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày càng được sử dụng như một lựa chọn thay thế hợp lý cho biện pháp tạm giam, đặc biệt trong các vụ án phạm tội ít nghiêm trọng hoặc người bị khởi tố có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Việc sử dụng hợp lý biện pháp này không chỉ góp phần bảo đảm quyền tự do cá nhân của bị can, bị cáo mà còn nâng cao hiệu quả quản lý, theo dõi trong quá trình tố tụng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng biện pháp này còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập - từ xác định “nơi cư trú”, xác định thời hạn, cho đến quản lý theo dõi và phối hợp giữa các cơ quan… Bài viết này tác giả sẽ phân tích kỹ lưỡng cơ sở pháp lý, thực tiễn áp dụng, những khó khăn cụ thể và đề xuất kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao tính khả thi và hiệu quả của biện pháp ngăn chặn này trong quá trình tố tụng.

Biện pháp ngăn chặn 'Cấm đi khỏi nơi cư trú' trong tố tụng hình sự: Thực tiễn áp dụng, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện

Cơ sở pháp lý

- Theo khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (BLTTHS 2015) thì: “Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.”[1]

- Khoản 2 Điều 123 quy định các nghĩa vụ của bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp: không đi khỏi nơi cư trú nếu không được phép; phải có mặt theo giấy triệu tập (trừ trường hợp bất khả kháng); không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tẩu tán tài sản liên quan; không đe dọa, khống chế người làm chứng, bị hại, tố giác.[2]

- Khoản 3 Điều 123 quy định về thẩm quyền ra lệnh: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện KSND và Viện KS quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa; Đồn trưởng Đồn biên phòng.[3]
 

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

- Khoản 4 quy định về thời hạn: “Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.”[4]

- Khoản 5 quy định về việc thông báo và giao quản lý cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội nơi bị can, bị cáo cư trú; quyền tạm thời đi khỏi nơi cư trú chỉ được khi được chính quyền địa phương và người đã ra lệnh cho phép.[5]

- Khoản 6 quy định nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì chính quyền địa phương phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh để xử lý theo thẩm quyền (ví dụ chuyển sang tạm giam).[6]

Như vậy, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đã được luật hóa tương đối rõ ràng - xác định đối tượng áp dụng, nghĩa vụ của người bị áp dụng, thẩm quyền, thời hạn và yêu cầu quản lý địa phương.

Thực tiễn áp dụng và phân tích

Những ưu điểm rõ nét

- Giảm thiểu việc sử dụng tạm giam: Trong nhiều vụ án phạm tội ít nghiêm trọng, lần đầu phạm tội, người bị khởi tố có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, việc áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú giúp tránh việc tước đoạt quyền tự do cá nhân (so với tạm giam) - đảm bảo nguyên tắc “không hình sự hóa hình phạt” hơn mức cần thiết. Ví dụ: trong một nhóm thanh thiếu niên ở Đắk Lắk bị khởi tố gây rối trật tự công cộng, cơ quan điều tra đã áp dụng lệnh cấm để quản lý thay vì tạm giam.[7]

- Tăng khả năng theo dõi, quản lý tại địa phương: Khi giao chính quyền xã/phường quản lý, việc theo dõi hoạt động của bị can, bị cáo gần gũi hơn, thuận tiện hơn so với khi bị giam giữ tại trại tạm giam.

- Tính linh hoạt trong tố tụng: Biện pháp có thể được thay đổi trong quá trình tố tụng - ví dụ chuyển từ tạm giam sang lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú nếu nhân thân tốt, hoặc ngược lại nếu người bị áp dụng vi phạm cam đoan.

Một số dẫn chứng thực tiễn

- Vụ việc tại Hưng Yên: Tòa án địa phương đã chuyển đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Thái Khắc Thành – đây là minh chứng cho việc biện pháp này được sử dụng trong thực tế nhằm bảo vệ quyền tự do cá nhân khi điều kiện cho phép.

- Các bản phân tích chuyên đề cho thấy: rất nhiều trường hợp khi ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, cơ quan điều tra đã ghi thời hạn “đến khi kết thúc điều tra/truy tố” hoặc “đến khi mở phiên tòa” - và trong thực tế có vụ bị cáo bị áp dụng lệnh này suốt nhiều năm, bởi thời hạn không được xác định cụ thể.

Vướng mắc và bất cập

Dưới đây phân tích các vấn đề cụ thể đã và đang được thảo luận:

(i) Xác định “nơi cư trú”

Luật yêu cầu người bị áp dụng biện pháp phải có “nơi cư trú, lý lịch rõ ràng”. Tuy nhiên:

- Theo Luật Cư trú năm 2020 thì “nơi cư trú” gồm nơi thường trú, nơi tạm trú, hoặc trong trường hợp không xác định được thì nơi ở hiện tại.

- Trên thực tế, nhiều bị can, bị cáo có đăng ký hộ khẩu thường trú tại một địa phương nhưng thực tế cư trú, làm việc tại địa phương khác, thậm chí chưa đăng ký tạm trú; khi đó việc xác định “nơi cư trú để áp dụng lệnh cấm” trở nên mơ hồ. Điều này dẫn tới việc chính quyền địa phương từ chối nhận quản lý hoặc cơ quan ra lệnh không xác minh kỹ dẫn tới mất hiệu quả.[8]

(ii) Thời hạn áp dụng chưa thực sự cụ thể và việc ghi lệnh không thống nhất

- BLTTHS 2015 chỉ nêu “không quá thời hạn điều tra/truy tố/xét xử” nhưng không ghi cụ thể số ngày, hoặc không quy định rõ “kể từ khi nào đến khi nào”. Vì thế trên thực tế các lệnh có ghi “đến khi kết thúc điều tra”, “đến khi mở phiên tòa”, hoặc “đến hết thời hạn điều tra (45 ngày)”… dẫn tới không ít trường hợp lệnh cấm kéo dài nhiều năm mà không xem xét lại hiệu lực, hoặc khi thay đổi giai đoạn tố tụng thì chưa ban hành lệnh mới.

- Thiếu quy định rõ việc gia hạn hoặc thay thế lệnh khi chuyển giai đoạn làm cho quản lý khó khăn, nếu vụ án kéo dài hoặc bị cáo được trả hồ sơ điều tra bổ sung.

(iii) Quản lý, theo dõi và phối hợp địa phương – cơ quan tố tụng

- Khoản 5 Điều 123 yêu cầu thông báo và giao quản lý cho chính quyền xã/phường hoặc đơn vị quân đội. Nhưng thực tế: chính quyền địa phương thường thiếu nhân lực, thiết bị theo dõi, chưa có hồ sơ quản lý riêng cho người bị áp dụng biện pháp này; có nơi từ chối quản lý vì người bị áp dụng hộ khẩu thường trú nơi khác hoặc chưa đăng ký tạm trú.

- Việc phối hợp giữa cơ quan ra lệnh và chính quyền địa phương chưa đồng bộ: có nơi giao nhưng không có biên bản giao, hoặc sau khi giao không kiểm tra, báo cáo vi phạm kịp thời. Điều này làm tăng nguy cơ người bị áp dụng lệnh tự ý rời nơi cư trú, gây khó khăn cho điều tra/thực thi án.

(iv) Hạn chế sử dụng công nghệ hỗ trợ theo dõi

Hiện nay, chưa có quy định phổ biến về sử dụng giám sát điện tử (electronic monitoring) đối với người bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Khi người bị lệnh đi làm ăn xa, thay đổi nơi cư trú, việc theo dõi bằng biện pháp truyền thống (điều tra viên/ công an xã) không đáp ứng kịp thời, dẫn tới bỏ trốn hoặc không có mặt theo giấy triệu tập.

(v) Thủ tục cho phép tạm thời rời nơi cư trú chưa thực sự rõ ràng

Theo khoản 5 Điều 123: nếu vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, người bị cấm muốn tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã/phường và giấy cho phép của người đã ra lệnh.

Tuy nhiên, trong thực tiễn: chưa có mẫu đơn thống nhất, chưa quy định thời gian giải quyết, ai chịu trách nhiệm trả lời; người bị áp dụng lệnh khi xin phép gặp khó khăn (ví dụ đi chữa bệnh, đưa người thân đi viện, công việc khẩn cấp) và có trường hợp bị xử lý vi phạm nếu rời đi mà không xin phép kịp.

Nhận xét tổng hợp

Biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” rõ ràng mang lại lợi ích lớn: tăng tính nhân văn trong tố tụng (hạn chế tước đoạt quyền tự do), nâng cao hiệu quả theo dõi tại địa phương, linh hoạt hơn so với tạm giam. Tuy nhiên, những vướng mắc nêu trên đang làm giảm tính khả thi, hiệu quả quản lý và đôi khi dẫn tới tình trạng người bị áp dụng lệnh này “trôi nổi”, gây khó khăn cho công tác xét xử, thi hành án.

Đặc biệt, việc xác định “nơi cư trú” không rõ, quản lý địa phương yếu, thời hạn lệnh mơ hồ, không có biện pháp giám sát kỹ thuật, tất cả tạo ra “khoảng trống” trong quản lý người bị áp dụng lệnh.

Kiến nghị hoàn thiện

Dưới đây là các kiến nghị cụ thể (được trình bày theo dạng khung luật – để đề xuất sửa đổi hoặc ban hành nghị định/ thông tư hướng dẫn):

Hoàn thiện khái niệm “nơi cư trú”

- Sửa khoản 1 Điều 123 BLTTHS hoặc ban hành Nghị quyết hướng dẫn để định nghĩa “nơi cư trú” áp dụng cho biện pháp cấm bao gồm: nơi thường trú; nơi tạm trú đã đăng ký theo Luật Cư trú; nếu người không đăng ký tạm trú nhưng thực tế cư trú tại địa phương trong thời gian tối thiểu 6 tháng liên tục (có hợp đồng lao động/hóa đơn sinh hoạt) thì được xác định là “nơi cư trú”.

- Trước khi ra lệnh, cơ quan có thẩm quyền phải xác minh nơi cư trú thực tế, hướng dẫn bị can, bị cáo thực hiện khai báo tạm trú nếu cần, và ghi rõ trong lệnh địa chỉ nơi cư trú hiện tại.

Chuẩn hoá mẫu lệnh và quy định rõ thời hạn áp dụng

- Ban hành mẫu lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (theo mẫu thống nhất): ghi rõ tên bị can/bị cáo; địa chỉ cụ thể nơi cư trú; thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc lệnh (ví dụ: “từ ngày … đến ngày … hoặc đến kết thúc giai đoạn điều tra/truy tố/xét xử”), cùng điều khoản gia hạn nếu cần.

- Sửa khoản 4 Điều 123 BLTTHS thành: “Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá 30 ngày đối với tội ít nghiêm trọng, 45 ngày tội nghiêm trọng, 60 ngày tội rất nghiêm trọng/trong giai đoạn điều tra; nếu cần tiếp tục phải được cấp có thẩm quyền gia hạn, mỗi lần tối đa 15 ngày.” (Có thể tham khảo thời hạn chuẩn bị xét xử tại Điều 277 BLTTHS).

- Khi chuyển giai đoạn tố tụng (ví dụ từ điều tra sang truy tố, truy tố sang xét xử), nếu lệnh trước còn thời hạn thì vẫn tiếp tục; nếu đã hết thời hạn thì bắt buộc phải ban hành lệnh mới hoặc chuyển sang biện pháp khác.

Quy định thủ tục thông báo và giao quản lý rõ ràng hơn

- Nghị quyết hướng dẫn quy định rõ: trong vòng 24 giờ kể từ khi ra lệnh, cơ quan ra lệnh phải gửi bản chính cho UBND xã/phường, Công an xã/phường; lập biên bản giao quản lý, có xác nhận của người nhận.

- Chính quyền xã/phường, công an phường phải nhập thông tin người bị áp dụng vào hệ thống quản lý; định kỳ mỗi 7 ngày phải báo cáo tình hình cho cơ quan ra lệnh về việc cư trú, việc tuân thủ cam đoan.

- Trường hợp người bị áp dụng chuyển nơi ở/việc làm (hoặc tạm thời đi khỏi nơi cư trú) phải thông báo cho chính quyền nơi mới trong vòng 48 giờ và được sự đồng ý của người ra lệnh.

Cho phép thử nghiệm và sử dụng giám sát điện tử

- Ban hành hướng dẫn thí điểm sử dụng thiết bị giám sát điện tử (như vòng tay điện tử, thiết bị định vị) đối với người bị áp dụng lệnh cấm trong trường hợp có rủi ro bỏ trốn cao, người lao động đi lại nhiều, hoặc khi địa phương khó kiểm soát bằng phương pháp truyền thống.

- Quy định về chi phí, quyền riêng tư , bảo mật dữ liệu, thời hạn sử dụng; nếu người bị áp dụng lệnh vi phạm cam đoan thì chuyển sang biện pháp tạm giam.

- Xây dựng hệ thống kết nối dữ liệu giữa Cơ quan điều tra, Tòa án, Công an địa phương để theo dõi trạng thái “đang bị áp dụng lệnh cấm”.

Thủ tục xin phép tạm thời đi khỏi nơi cư trú

- Ban hành mẫu “Đơn xin phép tạm thời đi khỏi nơi cư trú” kèm hướng dẫn rõ tiêu chí chấp nhận (chữa bệnh, đưa người thân đi viện, lao động, thiên tai, dịch bệnh…).

- Quy định thời hạn giải quyết: cơ quan có thẩm quyền (người đã ra lệnh hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT được ủy quyền) phải trả lời trong 48 giờ kể từ khi nhận đơn; nếu quá thời hạn mà không trả lời, xem như đã được chấp thuận (với điều kiện người bị áp dụng vẫn thông báo trước cho chính quyền địa phương).

- Khi cho phép, phải ghi rõ địa điểm, thời gian đi, thời gian trở về, điều kiện theo dõi (liên hệ công an địa phương nơi đến) và người xin phép phải cam kết tuân thủ.

Nâng cao năng lực quản lý ở cơ sở

- Xây dựng quy trình, đào tạo cho công an xã/phường, UBND xã/phường về chế độ quản lý người bị áp dụng lệnh cấm: lập hồ sơ riêng, cập nhật định kỳ, phối hợp với các phòng nghiệp vụ công an huyện/thành phố.

- Cấp kinh phí, phần mềm cơ bản và thiết bị đầu cuối (máy tính, phầm mềm quản lý) để quản lý dân cư “người đang bị áp dụng biện pháp cấm” — từ đó, tránh việc “trôi” hoặc “không rõ” địa chỉ quản lý.

- Định kỳ (ví dụ mỗi 06 tháng) tổng kết số trường hợp áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, phân tích hiệu quả, đề xuất điều chỉnh.

Kết luận

Biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” là một công cụ quan trọng trong tố tụng hình sự hiện đại, vừa bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập, vừa hạn chế việc phải tạm giam người khi chưa thật cần thiết, qua đó góp phần bảo vệ quyền con người, quyền tự do cá nhân.

Tuy nhiên, như phân tích ở trên, việc xác định nơi cư trú, ghi thời hạn lệnh, quản lý, theo dõi và phối hợp thực thi vẫn còn nhiều bất cập, nếu tiếp tục để tồn tại thì sẽ ảnh hưởng đến cả hiệu quả tố tụng và quyền lợi của người bị áp dụng. Việc sửa đổi luật và ban hành hướng dẫn chi tiết như đã đề xuất ở phần kiến nghị là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả và tính khả thi của biện pháp này trong thực tiễn.

Hy vọng rằng bài viết này sẽ góp phần vào việc hoàn thiện cơ chế áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú trong tố tụng hình sự Việt Nam, phù hợp với xu hướng hiện đại hóa, bảo vệ quyền con người và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về hình sự.

Tài liệu tham khảo

1. “Cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015” – Thư viện Pháp luật. THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

2. “Quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú tại Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015” – LSVN. Luật sư Việt Nam

3. “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú – bất cập và kiến nghị hoàn thiện” – LSVN. Luật sư Việt Nam

4. “ Khái niệm về nơi cư trú và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú” – Luật Minh Khuê. Công ty Luật TNHH Minh Khuê

5. “Cùng được tại ngoại nhưng cấm đi khỏi nơi cư trú và bảo lĩnh khác nhau gì?” – Báo Pháp luật TP.HCM. plo.vn

 

[1] https://congan.quangtri.gov.vn/tim-hieu-noi-dung-dieu-123-bltths-nam-2015-ve-cam-di-khoi-noi-cu-tru.

[2] https://thuvienphapluat.vn/cong-dong-dan-luat/cam-di-khoi-noi-cu-tru-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-2015-205315.

[3] https://luathoanganh.vn/hoi-dap-luat-hinh-su/cam-di-khoi-noi-cu-tru-va-bien-phap-ngan-chan-cam-di-khoi-noi-cu-tru-la-gi-lha2914.

[4] https://congan.quangtri.gov.vn/tim-hieu-noi-dung-dieu-123-bltths-nam-2015-ve-cam-di-khoi-noi-cu-tru.

[5]https://lsvn.vn/quy-di-nh-ve-cam-di-khoi-noi-cu-tru-ta-i-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2015-1694344209-a135031.

[6] https://tapchitoaan.vn/cam-di-khoi-noi-cu-tru-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-2015.

[7] https://thuvienphapluat.vn/cong-dong-dan-luat/cam-di-khoi-noi-cu-tru-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-2015-205315.

[8] https://lsvn.vn/lenh-cam-di-khoi-noi-cu-tru-bat-cap-va-kien-nghi-hoan-thien-1713621413-a142964.html?utm.

Tác giả bài viết: TRẦN THANH SƠN

Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ĐỐI TÁC CỦA LUẬT PHÁP LÝ
ngan háng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây