Bàn về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP

Thứ sáu - 21/11/2025 23:12

(LSVN) - Ngày 30/9/2025, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP (gọi tắt là Nghị quyết số 04) hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại Điều 2 của Nghị quyết đã giải thích toàn bộ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là cơ sở để áp dụng thống nhất, chính xác trong giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, hướng dẫn này vẫn còn một số điểm chưa thật sự chính xác, đầy đủ, chưa bao hàm hết thực tiễn.

1. Tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”

Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04, tình tiết này được áp dụng khi thuộc một trong bốn trường hợp, trong đó có trường hợp “Có chứng cứ chứng minh người phạm tội tự nguyện hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra, nhưng bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự từ chối nhận và họ đã đem số tiền, tài sản đó cất giữ, gửi giữ để sẵn sàng thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả khi có yêu cầu”.

Như vậy, trường hợp này đòi hỏi phải chứng minh được người phạm tội có động thái, hành động muốn sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nhưng không thực hiện được do bị hại, nguyên đơn dân sự từ chối. Sau đó, người phạm tội đã cất giữ, gửi giữ để sẵn sàng thực hiện việc bồi thường, khắc phục hậu quả khi có yêu cầu. Bồi thường, khắc phục hậu quả thuộc phạm vi vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện, tôn trọng thỏa thuận của các bên. Bị hại, nguyên đơn dân sự là hai chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả bằng ý chí của mình đã từ chối việc người phạm tội bồi thường, khắc phục hậu quả. Nhưng ý chí này hoàn toàn có thể thay đổi, họ có quyền yêu cầu người phạm tội thực hiện bất cứ lúc nào cho dù trước đó họ đã từ chối. Vấn đề đặt ra là Nghị quyết số 04 quy định người phạm tội phải “gửi giữ, cất giữ số tiền, tài sản để sẵn sàng thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”. Vậy, người phạm tội phải cất giữ, gửi giữ số tiền bao nhiêu, số tài sản bao nhiêu, loại tài sản là gì và thời gian cất giữ, gửi giữ là bao lâu?

 

Trước tiên, về định lượng tiền, tài sản, loại tài sản: Dựa trên quy định nêu trên có thể hiểu người phạm tội phải cất giữ, gửi giữ “số tiền, số tài sản, loại tài sản” mà người này có ý định dùng để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nhưng bị từ chối”. Tuy nhiên, có trường hợp người phạm tội chưa thể hiện hết ý định của mình rằng sẽ dùng bao nhiêu tiền, dùng tài sản gì thì bị hại, nguyên đơn dân sự đã từ chối; có trường hợp sau khi từ chối tài sản, số tiền dự định ban đầu bị thay đổi. Chưa hết, nếu đã là ý định chưa thực hiện được thì việc chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án là rất khó khăn. Trong những trường hợp này, căn cứ vào đâu để xác định người phạm tội đã cất giữ, gửi giữ đúng số tiền, tài sản, loại tài sản để sẵn sàng thực hiện bồi thường, khắc phục hậu quả vẫn chưa rõ ràng, dẫn đến lúng túng cho chủ thể tiến hành tố tụng khi áp dụng.

Thứ hai, về thời gian cất giữ: Việc quy định người phạm tội phải cất giữ, gửi giữ tiền, tài sản là nhằm mục đích có thể thực hiện bồi thường, khắc phục hậu quả khi bị hại, nguyên đơn dân sự có yêu cầu. Nhưng việc yêu cầu bồi thường của bị hại, nguyên đơn dân sự phụ thuộc vào ý chí của họ ở bất cứ thời điểm nào. Vậy, người phạm tội phải cất giữ, gửi giữ đến thời điểm nào? Không thể nói chung chung “cất giữ, gửi giữ” mà không có thời hạn bởi điều đó sẽ đưa người phạm tội vào tình thế thụ động, tài sản bị treo, không thể khai thác hay lưu thông theo đúng chức năng của tài sản. Có quan điểm cho rằng, tại thời điểm xét xử, Tòa án xem xét người phạm tội có đang cất giữ, gửi giữ tiền, tài sản hay không. Nếu có thì cho họ hưởng tình tiết giảm nhẹ, nếu không thì không cho họ hưởng. Theo quan điểm này thì Tòa án chỉ xem xét ở thời điểm xét xử, sau đó việc cất giữ, gửi giữ không được xem xét đến nữa. Điều này sẽ làm mất đi ý nghĩa của việc đặt ra yêu cầu phải cất giữ, gửi giữ bởi sau thời điểm xét xử, bị hại và nguyên đơn dân sự vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc bồi thường, khắc phục hậu quả.

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng không cần thiết đặt ra quy định buộc người phạm tội phải cất giữ, gửi giữ tiền, tài sản khi bị hại, nguyên đơn dân sự từ chối để sẵn sàng bồi thường, khắc phục hậu quả mới cho hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Quyền và nghĩa vụ của bị hại, nguyên đơn dân sự đã được phổ biến, giải thích; họ có đầy đủ nhận thức để đưa ra quyết định về việc có yêu cầu người phạm tội bồi thường hay không. Vấn đề cần phải xem xét là lý do mà họ từ chối việc bồi thường của người phạm tội, chứ không phải lo ngại về việc họ sẽ thay đổi ý định trong tương lai. Do đó, tác giả cho rằng nên sửa quy định này theo hướng bỏ điểm c, d khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04, thay thế bằng quy định: “Người phạm tội tự nguyện hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra, nhưng bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối nhận và không có yêu cầu gì khác”.

2. Tình tiết “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”

Tình tiết này được hướng dẫn tại khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 04, trong đó gây thiệt hại không lớn là “trường hợp tội phạm đã được thực hiện và đã gây ra thiệt hại (thiệt hại thực tế đã xảy ra) nhưng thiệt hại xảy ra không lớn so với mức bình thường của tội phạm đó. Việc xác định thiệt hại lớn hay không lớn phải căn cứ vào giá trị thiệt hại (thiệt hại vật chất), ảnh hưởng của thiệt hại đến chủ sở hữu và xã hội (thiệt hại phi vật chất). Đối với thiệt hại vật chất thì căn cứ vào trị giá quy đổi thành tiền, đối chiếu với định lượng bằng tiền quy định trong các cấu thành tội phạm tương ứng mà tội phạm xâm phạm…”.

Từ quy định trên thấy rằng, đối với thiệt hại vật chất thì việc xác định mức độ thiệt hại để phân loại là thiệt hại lớn hay thiệt hại không lớn phải căn cứ vào giá trị thiệt hại, sau đó đối chiếu giá trị thiệt hại với định lượng bằng tiền quy định trong các cấu thành tội phạm tương ứng. Quy định này là rất phù hợp bởi với các tội phạm khác nhau, mức độ thiệt hại cũng khác nhau. Tuy nhiên, có hai vấn đề xảy ra:

Thứ nhất, định lượng tiền được dùng để đối chiếu với giá trị thiệt hại là mức thấp nhất hay mức cao nhất của khung định lượng. Ví dụ khung định lượng là từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng thì khi đối chiếu sẽ lấy mức định lượng nào?

Thứ hai, khi đối chiếu giữa giá trị thiệt hại và định lượng tiền của tội phạm thì tỉ lệ như thế nào sẽ được coi là thiệt hại không lớn thì luật chưa có quy định?

Tác giả cho rằng, mức để đối chiếu là mức định lượng tiền thấp nhất của tội phạm bởi lẽ: Đây là mức khởi điểm để định tội danh, đồng thời có những khung định lượng không có mức cao nhất (khung từ xxx triệu đồng trở lên). Khi đối chiếu giá trị thiệt hại với mức thấp nhất của định lượng tiền, tỉ lệ 1,25 được coi là thiệt hại không lớn. Vì vậy, kiến nghị bổ sung thêm quy định “Định lượng tiền dùng để đối chiếu là mức thấp nhất của khung định lượng, tỉ lệ giữa giá trị thiệt hại và mức thấp nhất của khung định lượng không quá 1,25 thì được coi là gây thiệt hại không lớn”.

3. Tình tiết “người phạm tội đã lập công chuộc tội”

Người phạm tội đã lập công chuộc tội là trường hợp người phạm tội có một trong các hành động quy định được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc xác nhận, trong đó có hành động “lập được những chiến công, công lao khác để sửa chữa, bù đắp cho hành vi phạm tội của mình như giúp được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị của Nhà nước, tập thể, cá nhân trong thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác”. Như vậy, giúp được người khác trong tình tiết hiểm nghèo chính là lập công lao khác và được coi là đã lập công chuộc tội, điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, cần làm rõ một số vấn đề sau:

Một là, người khác được hiểu như thế nào? Trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, cụm từ “người khác” được nhắc đến khá nhiều và được hiểu là bất kỳ người nào ngoài trừ một người là chủ thể thực hiện hành vi. Tương tự như vậy, người khác ở trong quy định này nếu hiểu theo nghĩa thông thường có thể là bất kỳ ai ngoài trừ bản thân người phạm tội có hành vi lập công. Tuy nhiên, nếu áp dụng cách hiểu này trong thực tiễn thì liệu có bảo đảm tính hợp lý hay không. Nếu như người được giúp là cha, mẹ, ông, bà, anh chị em, vợ, chồng, con của người đó thì ý nghĩa của việc “lập công” có được bảo đảm hay không. Bởi lẽ, với những người nêu trên, họ bắt buộc phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định pháp luật và phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức trong xã hội. Một khi đã là trách nhiệm, thì việc họ làm phải được coi là đương nhiên mà không thể coi là “lập công”. Do đó, cần có ngoại lệ đối với người được giúp trong trường hợp này mới giữ được ý nghĩa của việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Hai là, tình thế như thế nào được coi là tình thế hiểm nghèo? Hiện nay chưa có bất kỳ văn bản nào giải thích thế nào là tình thế hiểm nghèo. Ngay cả thuật ngữ “bệnh hiểm nghèo” cũng chưa có giải thích mà chỉ có liệt kê một số loại bệnh được coi là bệnh hiểm nghèo như ung thư, suy thận, HIV/AIDS… Chính vì vậy, việc xác định tình thế hiểm nghèo vẫn còn rất khó khăn, phụ thuộc vào đánh giá của Tòa án và không thống nhất trong thực tiễn.

Ba là, hiểu “giúp được” thế nào cho đúng? Có nhiều quan điểm khác nhau về hiểu thế nào là “giúp được”, trong đó quan điểm phổ biến nhất hiểu giúp được là phải giúp cho người đang trong tình thế hiểm nghèo thoát ra khỏi tình thế hiểm nghèo đó, kết quả của hành vi “giúp” phải là “người được giúp không còn trong tình thế hiểm nghèo nữa do được giúp đỡ”. Tuy nhiên, bởi vì tình thế hiểm nghèo chưa được hướng dẫn, nên việc xác định người được giúp đã thoát ra khỏi tình thế hiểm nghèo hay chưa cũng mang tính ước lượng theo đánh giá chủ quan. Chưa hết, tình thế hiểm nghèo đương nhiên phải là tình thế vô cùng khó khăn, nguy hiểm, với sức lực và khả năng của một người thì rất khó có thể giúp cho người đó hoàn toàn thoát khỏi tình thế này. Do đó, tác giả cho rằng, không nên hiểu “giúp được” theo nghĩa tuyệt đối mà chỉ nên hiểu là có sự giúp đỡ và sự giúp đỡ đó có kết quả tương đối đáng kể.

Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị ban hành hướng dẫn các nội dung: “Người khác” là bất kỳ người nào không bao gồm người thân thích của người phạm tội. Hướng dẫn tiêu chí xác định tình thế hiểm nghèo. Hướng dẫn “giúp được” là việc giúp đỡ đã đem lại kết quả giúp cho người đó thoát khỏi hoặc giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của tình thế”.

Tác giả bài viết: Văn Linh

Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ĐỐI TÁC CỦA LUẬT PHÁP LÝ
ngan háng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây