Quyền yêu cầu những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo BLDS và thực trạng áp dụng pháp luật của Tòa án

Thứ tư - 12/08/2026 07:48

(LSVN) - Tranh chấp thừa kế diễn ra khá phổ biến ở Việt Nam, trong các tranh chấp về thừa kế, thì tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là một trong những tranh chấp còn gây tranh cãi trên thực tế. Bài viết phân tích chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại ở các góc độ pháp luật thực định, và góc độ thực tiễn Tòa án áp dụng pháp luật trong công tác xét xử. Kiến nghị giải pháp hoàn thiện.

1. Quy định pháp luật

Pháp luật dân sự ghi nhận, người dân có quyền yêu cầu các đồng thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại thể hiện tại Điều 615 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, theo đó những người thừa kế phải “có trách nhiệm” thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và họ cũng chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản do người chết để lại.
 

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Theo điều luật thì tồn tại hai thời điểm để có thể yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Thời điểm thứ nhất, nếu di sản đó chưa phân chia, tức di sản còn hiện hữu một khối giá trị, các người thừa kế chưa thỏa thuận kỷ phần của từng người được hưởng trong phần di sản này, thì lúc này các đồng thừa kế thỏa thuận trích ra di sản để thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản do người chết để lại (khoản 2 Điều 615 BLDS 2015). Thời điểm thứ hai, nếu di sản đã được chia, mỗi người thừa kế đều đã được hưởng kỷ phần cụ thể, thì họ sẽ phải trích ra tương ứng theo tỉ lệ để thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, và việc trích ra không vượt quá phần di sản mình đã được chia thừa kế (khoản 3 Điều 615 BLDS 2015).

Vậy khi nào sẽ phát sinh nghĩa vụ của những người thừa kế? Theo quy định tại Điều 614 BLDS 2015 ghi nhận thời điểm phát sinh nghĩa vụ của người thừa kế đó là thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người có tài sản chết (khoản 1 Điều 611 BLDS 2015) thì những người thừa kế có nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Người thừa kế ở đây có thể là người thừa kế theo pháp luật (Điều 651 BLDS 2015) hoặc là người thừa kế theo di chúc.

Về vấn đề “Nghĩa vụ về tài sản” của người chết để lại và ”các khoản chi phí liên quan đến thừa kế” thì theo Điều 658 BLDS 2015, thứ tự thực hiện như sau :

Thứ nhất, các “chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng” (khoản 1 Điều 658 BLDS 2015)  như: Chi phí mua quan tài; chi phí hỏa táng, chôn cất; các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo phong tục, tập quán địa phương, các chi phí này chỉ phát sinh sau khi người đó đã chết. Còn các chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ theo tác giả không nên được chấp nhận.

Thứ hai, “tiền cấp dưỡng” (khoản 2 Điều 658 BLDS 2015) do người quá cố lúc còn sống phải thực hiện nhưng còn thiếu như: Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng theo chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (điểm c Khoản 1 Điều 591 BLDS 2015). Còn loại tiền cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn Nhân và Gia đình, đương nhiên chấm dứt khi người đó chết (khoản 1 Điều 107, khoản 4 Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014).

Thứ ba, “chi phí cho việc bảo quản di sản” (khoản 3 Điều 658 BLDS 2015), chi phí này phát sinh sau khi người đó đã chết, các chi phí có thể là mua vật tư sữa chửa di sản, vật dụng che đậy di sản tránh hư hỏng,… Về vấn đề này pháp luật dân sự có quy định như sau : trường hợp có di chúc mà trong nội dung di chúc có chỉ định người quản lý di sản hoặc các đồng thừa kế thỏa thuận cử ra người quản lý di sản thì người này sẽ được hoàn trả chi phí đã bỏ ra quản lý di sản ; trường hợp di chúc không nói gì , các đồng thừa kế chưa cử được người quản lý thì người hiện tại đang chiếm hữu quản lý sử dụng quản lý di sản thì người này sẽ được hoàn trả chi phí đã bỏ ra quản lý di sản; trường hợp di sản chưa có người quản lý và chưa có người thừa kế thì sẽ do cơ quan nhà nước quản lý và sau đó họ cũng được hoàn trả chi phí đã bỏ ra quản lý di sản (Điều 618 BLDS 2015).

Thứ tư, ”tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ” (khoản 4 Điều 658 BLDS 2015), mà người quá cố lúc còn sống phải thực hiện, tiền trợ cấp này có thể là trợ cấp cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người già neo đơn, người tàn tật , không có khả năng lao động, … họ là những người sống nương nhờ người để lại di sản, vì thế khi người này chết họ sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn, nên cần thiết phải trích di sản ra để trợ cấp cho họ.

Thứ năm, “tiền công lao động theo hợp đồng lao động” (khoản 5 Điều 658 BLDS 2015), mà người quá cố lúc còn sống đã giao kết với người lao động, họ có nghĩa vụ phải trả tiền thù lao, tiền lương cho người lao động còn thiếu…, ví dụ: ông A lúc sinh thời là chủ DNTN có giao kết hợp đồng lao động với người lao động, tuy nhiên ông A mất đột ngột và chưa kịp chi trả lương cho người lao động , vì thế tồn tại một nghĩa vụ của người quá cố để lại.

Thứ sáu, “tiền bồi thường thiệt hại" (khoản 6 Điều 658 BLDS 2015) do người quá cố lúc còn sống phải thực hiện, như trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng (Điều 419, 427, 428 BLDS 2015), hay như trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm … ( Chương XX trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng BLDS 2015).

Thứ bảy, “thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước” (khoản 7 Điều 658 BLDS 2015) , do người quá cố lúc còn sống phải thực hiện với nhà nước, như thuế thu nhập cá nhân, thuế đất nông nghiệp, thuế đất phi nông nghiệp,…

Thứ tám, “các khoản nợ khác” đối với cá nhân, pháp nhân (khoản 8 Điều 658 BLDS 2015), do người quá cố lúc còn sống phải thực hiện như các khoản nợ từ việc cho mượn tiền, vay tiền,… theo tác giả ngoài các khoản nợ gốc phải trả, thì các người thừa kế còn phải thực hiện nghĩa vụ, trả lãi trên nợ gốc phát sinh theo quy định pháp luật, tuy nhiên vấn đề trên thực tế còn nhiều quan điểm khác nhau.

Thứ chín, “các khoản tiền phạt” (khoản 9 Điều 658 BLDS 2015), mà người quá cố lúc còn sống có nghĩa vụ phải chịu phạt do vi phạm, số tiền phạt này có thể xuất phát từ việc xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác nhau, hoặc tiền phạt phát sinh từ hợp đồng mà các bên có thỏa thuận theo tác giả Luật ghi nhận tiền phạt nhưng không nêu rõ phạm vi giới hạn trong lĩnh vự nào, vì thế nên hiểu theo nghĩa rộng không nên bó hẹp là tiền phạt chỉ xuất phát từ việc xử lý vi phạm hành chính.

Thứ mười, các chi phí khác (khoản 10 Điều 658 BLDS 2015).

Về thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại được quy định tại khoản 3 Điều 623 BLDS 2015 như sau: “Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”, theo ý kiến của tác giả thời hiệu mà pháp luật quy định như trên là quá ngắn so với thời hiệu yêu cầu chia thừa kế là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, bởi vì sự kiện pháp lý một người mất không phải ai cũng có thể nắm được thông tin kịp thời, để yêu cầu các người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, do đó có khả năng sẽ lỡ mất thời hiệu khởi kiện và đây là một sự thiệt thòi của người có quyền.

2. Thực trạng xét xử của Tòa án về việc yêu cầu người thừa kế thực hiện tài sản do người chết để lại và bất cập

Để phản ánh thực trạng xét xử của Tòa án, tôi đưa vào bài viết bản án liên quan đến vấn đề đang phân tích, mà tác giả tìm kiếm được trên cổng thông tin điện tử của Tòa án, Bản án số: 62/2019/DS-PT, ngày: 07/8/2019, về việc “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” của TAND tỉnh Bình Thuận. Bản án đã có hiệu lực pháp luật được đăng tải công khai trên cổng thông tin điện tử.

Tình tiết như sau: Bà Huỳnh Thị H có cho bà Đào Thị M vay số tiền 150.000.000 đồng để kinh doanh vào năm 2009. Sau đó, bà M là ăn thua lỗ, nên bà M bán đất trừ nợ, diện tích đất chuyển nhượng là 286m2, với giá 400.000.000 đồng, giấy sang nhượng ghi ngày 11/11/2009. Tại giấy sang nhượng ghi số tiền 300.000.000 đồng và có đủ 8 người con của bà M ký tên và có bà Nguyễn Thị Mỹ Th là người làm chứng. Sau khi làm giấy xong thì bà đưa cho bà M 250.000.000 đồng cộng với 150.000.000 đồng bà M còn nợ là đủ 400.000.000 đồng.  

Trong thời gian lâm bệnh nặng bà M có gọi bà H cùng các con bà M đến và yêu cầu các con của bà phải có trách nhiệm làm thủ tục sang tên cho bà, bà M cũng có làm giấy ủy quyền cho 02 người con là Bà Trần Thị Ngọc D và bà Trần Thị N đứng tên quyền sử dụng đất để chuyển quyền sử dụng đất cho bà. Nhưng sau khi bà M chết, các con bà M cố tình tránh né, cố tình không thực hiện, do vậy bà yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại. Trong quá trình giải quyết vụ án thì các con bà Đào Thị M đều phủ nhận tờ giấy viết tay và không đồng ý với yêu cầu của bà H về việc thực hiện nghĩa vụ do mẹ chết để lại.

Ngày 31/10/2016 TAND TP. Phan Thiết đưa vụ án ra xét xử và tuyên xử: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H về việc "Tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”. Buộc các đồng thừa kế di sản của bà Đào Thị M là bà D, ông Đ, ông Đ1, ông Anh Th, bà Th, ông Huyền Th, bà N, ông Đ2 phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 400.000.000đồng cho bà Huỳnh Thị H.”

Không đồng ý với bản án sơ thẩm của TAND TP. Phan Thiết, ngày 11/11/2016, đồng bị đơn bà Trần Thị N và bà Trần Thị Ngọc D kháng cáo Tòa án cấp phúc thẩm , yêu cầu hủy bản án sơ thẩm .

Sau đó ngày 7/8/2019, TAND tỉnh Bình Thuận đã đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H về việc "Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”. Buộc các đồng thừa kế di sản của bà Đào Thị M là Bà Trần Thị Ngọc D, ông Trần Uyên Đ, ông Trần Lan Đ, ông Trần Anh Th, bà Trần Thị Dạ Th, ông Trần Đào Huyền Th, bà Trần Thị N, ông Trần Văn Đ phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng cho bà Huỳnh Thị H.

Bình luận bản án:

Đối với một vụ án thừa kế nói chung và vụ án thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại nói riêng, cần phải lưu ý các vấn đề sau :

Thứ nhất, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, đối với một vụ án dân sự khi khởi kiện tại TAND có thẩm quyền việc quan trọng là phải xác định được quan hệ pháp luật tranh chấp. Trong vụ án trên TAND tỉnh Bình Thuận xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại “ là chưa thật sự đúng với quy định của Luật, vì theo BLDS 2015 quy định tại các Điều 615, Điều 623 ghi nhận Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, nghĩa vụ ở đây phải là nghĩa vụ về tài sản, bởi vì một người quá cố trước khi mất, có thể có rất nhiều nghĩa vụ như nghĩa vụ thực hiện một công việc , nghĩa vụ trả tiền đã vay nợ, nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, … trong số các nghĩa vụ thì chỉ có nghĩa vụ về tài sản thì mới có khả năng được thực hiện trên thực tế , còn các nghĩa vụ như thực hiện công việc không thể chuyển giao cho các người thừa kế khác thực hiện thay cho người đã mất được, bởi vì theo quy định tại Điều 372 căn cứ chấm dứt nghĩa vụ trong đó có quy định: “Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân đó thực hiện” là một trong các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ.

Thứ hai, xác định thời điểm mở thừa kế, trong bản án trên không đề cấp đến thời gian bà Đào Thị M chết, tuy nhiên việc xác định thời điểm mở thừa kế tương đối quan trọng vì nó liên quan đến vấn đề thời gian nào sẽ bắt đầu thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại còn hay hết, theo quy định pháp luật thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết hoặc ngày mà Tòa án tuyên bố một người đã chết.

Thứ ba, xác định di sản người quá cố để lại gồm những gì, yếu tố này rất quan trọng vì đôi khi đã xác định được nghĩa vụ của người chết để lại nhưng người đã mất lại không còn di sản hoặc có di sản nhưng không tìm thấy thì xem như việc khởi kiện là vô nghĩa đói với bên có quyền .

Theo như phần nhận định của Tòa án, thì bà Đào Thị M có để lại một số di sản: Một là, thửa đất số 49, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 516175 ngày 17/10/2005, tờ bản đồ số 05, diện tích 420m2 đứng tên ông Trần Công Điệc, bà Đào Thị M tọa lạc lại Khu phố 1, phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết, đối với khối tài sản này thì chỉ ½ diện tích đất là di sản của bà M để lại, bởi vì đây là tài sản chung tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Điệc và bà M theo Điều 213, Điều 612 BLDS 2015 di sản của bà M gồm tài sản riêng của bà M chết để lại, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác .

Hai là, thửa đất số 96, tờ bản đồ số 05, diện tích 271m2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 510091 ngày 21/9/2007 đứng tên bà Đào Thị M, thì theo thông tin bản án không cho biết rõ đây là tài sản riêng hay tài sản chung, tuy nhiên bản án không nhận định tài sản này có trị giá 1/2 là của bà Đào Thị M, cho nên xem đây là tài sản riêng của người chết để lại vì thể là di sản của bà M để lại.

Ngoài ra, còn có thửa đất diện tích 1.482m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 664821 cấp cho hai người ông Điệc và bà M tuy nhiên cơ quan xét xử nhận định mảnh đất này đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất hiện đang do Ủy ban nhân dân TP. Phan Thiết giải quyết khiếu nại là đất của ông Đào Công Nh và bà Nguyễn Thị Th, cho nên chưa đủ cơ sở xác định đây là di sản của bà M, nên không đưa vào để tính nghĩa vụ trả nợ do bà M để lại.Như vậy, chỉ những di sản thừa kế nào là hợp pháp mới được xác định là di sản dùng vào việc chia thừa kế .

Thứ tư, xác định sự tồn tại nghĩa vụ của người chết để lại, vấn đề này quan trọng trong vụ án yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản người chết để lại, về phương diện tố tụng thì theo quy định Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 thì đương sự phải có nghĩa có nghĩa vụ chứng minh bằng cách giao nộp , cung cấp các tài liệu cho Tòa án để chứng minh yêu cầu của mình là hợp pháp. Trở lại bản án nói trên , theo như nội dung ban đầu bà Huỳnh Thị H khởi kiện với yêu cầu như sau: “…Đầu năm 2009 bà có cho bà Đào Thị M vay 150.000.000 đồng để kinh doanh hải sản, do bà M làm ăn thua lỗ không có khả năng trả nợ nên bà M bán đất cho bà để trừ nợ và để có tiền cất nhà cho các con ở, diện tích đất chuyển nhượng là 286m2, với giá 400.000.000 đồng, giấy sang nhượng ghi ngày 11/11/2009... Nhưng sau khi bà M chết, bà đề nghị bà D và bà Na thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng 286m2 cho bà thì các con bà M cố tình tránh né, cố tình không thực hiện. Ủy ban nhân dân phường Phú Hài cũng đã tiến hành cho hai bên hòa giải nhưng không thành, do vậy bà yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại…”,  yêu cầu khởi kiện ban đầu của bà Huỳnh Thị H là yêu cầu các con của bà Đào Thị M, gồm 8 người con có nghĩa vụ sang tên quyền sử dụng đất mà lúc sinh thời , bà M chưa thực hiện đối với bà H, có vẻ như đây là một dạng yêu cầu thực hiện một công việc hoặc một dạng yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán đất sau khi bà M đã mất. Quan điểm xét xử của hai cấp sơ thẩm , phúc thẩm như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H về việc "Tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.

Buộc các đồng thừa kế di sản của bà Đào Thị M là bà D, ông Đ, ông Đ1, ông Anh Th, bà Th, ông Huyền Th, bà N, ông Đ2 phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 400.000.000 đồng cho bà Huỳnh Thị H”.

Theo như yêu cầu ban đầu của bà Huỳnh Thị H là yêu cầu các người thừa kế phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tuy nhiên khi xét xử Tòa án hai cấp đã tuyên buộc các đồng thừa kế di sản của bà Đào Thị M là bà D, ông Đ, ông Đ1, ông Anh Th, bà Th, ông Huyền Th, bà N, ông Đ2 phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 400.000.000 đồng cho bà Huỳnh Thị H, do thông tin bản án không nêu cụ thể, trong quá trình giải quyết vụ án, phía Tòa án có yêu cầu đương sự điều chỉnh lại yêu cầu khởi kiện hay không? Nếu như chưa yêu cầu đương sự điều chỉnh lại yêu cầu khởi kiện cho phù hợp thì cỏ vẻ như TAND hai cấp có vi phạm nghiêm trọng tố tụng, Tòa án giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự, vì về nguyên tắc tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự (Điều 5 BLTTDS 2015)

Xét về góc độ quy định pháp luật tố tụng dân sự, thì các đương sự khi đưa ra các yêu cầu Tòa án giải quyết phải có trách nhiệm đưa ra các chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có cơ sở, bởi vì đây là nghĩa vụ mà BLTTDS 2015 quy định tại Điều 91, Điều 248 của Bộ luật.

Thứ năm, xác định hàng thừa kế và những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại? phạm vi thực hiện nghĩa vụ của từng người thừa kế ? việc xác định chính xác những người nào sẽ phải thực hiện nghĩa vụ và phạm vi đến đâu, còn liên quan đến giai đoạn thi hành, khi bản án có hiệu lực pháp luật, vì nếu bản án tuyên không rõ sẽ dẫn đến cơ quan thi hành án không thể thi hành được bản án gây ra việc vừa tốn kém, vừa mất thời gian của đương sự , trở lại bản án có những thông tin như sau:

- Về thông tin những người thừa kế thì Tòa án xác định người thừa kế gồm: Ông Trần Công Đ và bà Đào Thị M chung sống sinh được 8 người con: Trần Thị Ngọc D, Trần Uyên Đ, Trần Lan Đ, Trần Anh Th, Trần Thị Dạ Th, Trần Đào Huyền Th, Trần Thị N, Trần Văn Đ.  Theo quy định pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất gồm : vợ, chồng, cha, đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết (khoản 1 Điều 651 BLDS 2015), tuy nhiên Tòa án khi xác định có phần thiếu sót bởi vì theo thông tin vụ án thì bà Đào Thị M chung sống với ông Trần Công Đ , nếu là hôn nhân có đăng ký kết hôn thì  hàng thừa kế thứ nhất  ngoài tám người con thì có ông Đ là chồng hợp pháp của bà M , ngoài ra bản án cũng chưa xác định rõ cha,đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi có hay không của bà Đào thị M là chưa đúng với quy định pháp luật .

- Về phạm vi thực hiện nghĩa vụ của từng người thừa kế cụ thể là bao nhiêu Những người phải có nghĩa vụ trả nợ do bà M để lại: Bà D, ông Đ, ông Đ1, ông Anh Th, bà Th, ông Huyền Th, bà N, ông Đ2 cùng có trách nhiệm trả nợ cho bà H 400.000.000đồng.”đối với cách phân chia đều nghĩa vụ cho các người thừa kế thì Luật không quy định, về nguyên tắc pháp luật chỉ quy định khi chia di sản thừa kế thì các người thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau theo Khoản 2 Điều 651 BLDS 2015 , cho nên về phần phân chia nghĩa vụ có thể áp dụng tương tự pháp luật như phân chia di sản hoặc có thể theo thỏa thuận của các người thừa kế . Theo như tình tiết vụ án thì di sản thừa kế của bà Đào Thị M chưa phân chia, cho nên nếu di sản đó chưa phân chia, tức di sản còn hiện hữu một khối giá trị, các người thừa kế chưa thỏa thuận kỷ phần của từng người được hưởng trong phần này, thì lúc này các đồng thừa kế thỏa thuận trích ra để thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản do người chết để lại theo (khoản 2 Điều 615 BLDS 2015)

Thứ sáu, xác định thời hiệu thừa kế, ngoài các loại thời hiệu như thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế, thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế, bác bỏ quyền thừa kế, luật còn quy định một loại thời hiệu thứ ba đó là thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại, người thừa kế này có thể là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Thời hiệu này bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế, và Luật quy định là 03 năm để yêu cầu, theo tác giả khoảng thời gian rất ngắn gây ra bấp cập trên thực tế, bởi vì người có quyền đôi khi không biết được sự kiện người có nghĩa vụ chết, hoặc thậm chí là các thừa kế biết và không thông tin cho người có quyền, đây là thiệt thòi quyền lợi cho người có quyền trong việc yêu cầu các thừa kế thực hiện nghĩa vụ người quá cố. Hết thời hạn trên người có quyền sẽ mất đi quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng thực tế nghĩa vụ đó vẫn tồn tại, các đồng thừa kế vẫn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người quá cố.

Nên chăng quy định lại về thời điểm bắt đầu thời hiệu là kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết người có nghĩa vụ chết. Đồng thời, nếu vận dụng các quy định như thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện do có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan,… thời hiệu sẽ kéo dài ra thêm. Ngoài ra, thời hiệu này cũng phải tuân thủ theo phần quy định chung của thời hiệu ở chương X thời hạn, thời hiệu của BLDS 2015, nên việc thời hiệu khởi kiện sẽ bắt đầu lại cũng được áp dụng cho thời hiệu thừa kế, về vấn đề này có thể tham khảo bài viết Thời hiệu thừa kế theo pháp luật dân sự và thực trạng vận dụng pháp luật của Tòa án – tác giả Nguyễn Trần Ngà trên trang Tạp chí TAND”.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tác giả đề xuất sửa đổi lại khoản 3 Điều 623 BLDS 2015: Một là, tăng thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại từ 3 năm lên thành 10 năm. Hai là thời điểm bắt đầu thời hiệu, nên bỏ quy định bắt đầu “kể từ thời điểm mở thừa kế” thay bằng “thời điểm bắt đầu thời hiệu là kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết người có nghĩa vụ chết”.

Tác giả bài viết: NGUYỄN TRẦN NGÀ Công ty Luật hợp danh Danh và cộng sự.

Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

ĐỐI TÁC CỦA LUẬT PHÁP LÝ
ngan háng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây