Hành vi mạo danh luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép: Thực trạng và kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật

Chủ nhật - 20/09/2026 22:14

(LSVN) - Thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam phát triển nhanh nhưng đi kèm tình trạng cá nhân, tổ chức không phải luật sư vẫn cung cấp dịch vụ pháp lý có thu thù lao và mạo danh luật sư, gây thiệt hại cho người dân, thất thu thuế và làm méo mó thị trường. Trên cơ sở phân tích quy phạm, một số vụ việc và bản án điển hình, cùng việc tham khảo kinh nghiệm kiểm soát hành nghề luật trái phép (UPL) của Hoa Kỳ, bài viết làm rõ một "nghịch lý điều tiết" và sự bất đối xứng trong chế tài: với cùng cơ chế thù lao theo kết quả, người không phải luật sư được pháp luật dân sự bảo vệ và trên thực tế ít bị xử lý, trong khi luật sư lại bị giới hạn và chịu chế tài chặt chẽ.

Từ đó, bài viết kiến nghị khung tiếp cận hai chiều: xử lý nghiêm hành vi cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép theo Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) và Nghị định 109/2026/NĐ-CP, đồng thời bảo đảm quyền hành nghề và hợp pháp hóa cơ chế thù lao theo tỷ lệ phần trăm giá trị vụ việc cho luật sư trong khuôn khổ pháp luật.

1. Đặt vấn đề

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư như một bộ phận quan trọng của chiến lược cải cách tư pháp. Trong những năm qua, đội ngũ luật sư đã phát triển vượt bậc: số lượng luật sư tăng từ 9.897 người (năm 2015) lên khoảng 22.098 người (năm 2025); doanh thu từ hoạt động dịch vụ pháp lý tăng từ hơn 1.371 tỷ đồng lên trên 5.903 tỷ đồng trong cùng giai đoạn [1]. Sự phát triển đó khẳng định vai trò ngày càng lớn của nghề luật sư trong đời sống kinh tế - xã hội và trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, nhưng cũng kéo theo những mặt trái: tình trạng cá nhân, tổ chức không phải là luật sư nhưng vẫn cung cấp dịch vụ pháp lý như luật sư, lợi dụng quy định thông thoáng về đại diện theo ủy quyền để thu thù lao thường xuyên, né nghĩa vụ thuế, mạo danh luật sư, làm méo mó thị trường và xâm hại quyền lợi của người dân.
 

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.
Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.

Vấn đề điều tiết thị trường dịch vụ pháp lý có hai mặt không thể tách rời: một mặt phải ngăn chặn triệt để chủ thể không đủ điều kiện hành nghề mà cung cấp dịch vụ pháp lý có thù lao; mặt khác phải bảo đảm để chủ thể hành nghề hợp pháp là luật sư được hưởng đầy đủ quyền hành nghề, trong đó có quyền tự do thỏa thuận thù lao linh hoạt, minh bạch. Thực tiễn cho thấy hai mặt này chưa được xử lý đồng bộ, dẫn đến một nghịch lý điều tiết và sự bất đối xứng trong xử lý vi phạm mà bài viết phân tích dưới đây, từ đó đề xuất khung tiếp cận thống nhất và các giải pháp hoàn thiện pháp luật.

2. Cơ sở lý luận: Nghề luật sư có điều kiện và ranh giới với đại diện theo ủy quyền

Pháp luật quy định luật sư là một nghề có điều kiện nhằm bảo vệ khách hàng trước tình trạng bất cân xứng thông tin của dịch vụ pháp lý, chứ không phải tạo đặc quyền. Theo Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), để được hành nghề, luật sư phải đáp ứng tiêu chuẩn chặt chẽ [2], hoàn thành đào tạo nghề [3], tập sự và đạt kỳ thi quốc gia về luật sư [4]; đồng thời chịu sự ràng buộc của đạo đức nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và cơ chế giám sát, kỷ luật của tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Người cung cấp dịch vụ pháp lý ngoài hệ thống này không chịu bất kỳ lớp bảo đảm nào, khiến khách hàng không có cơ chế khiếu nại nghề nghiệp và khó truy cứu trách nhiệm khi xảy ra thiệt hại.

Xét dưới góc độ lý luận, việc phân định ranh giới giữa đại diện theo ủy quyền và hành nghề luật chuyên nghiệp là thước đo cho tính toàn vẹn của một hệ thống tư pháp. Tại Việt Nam, quyền đại diện theo ủy quyền được quy định tại các Điều 134, 135, 138 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và các Điều 85, 86 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015. Về bản chất, đây là một quyền dân sự mang tính hỗ trợ, dựa trên sự tin tưởng cá nhân và không nhằm mục đích kinh doanh thường xuyên; nó không đồng nghĩa với quyền cung cấp dịch vụ pháp lý có thù lao một cách chuyên nghiệp.

Lý thuyết về “nghịch lý điều tiết” (regulatory paradox) [5] cho thấy các quy định quản lý nhà nước được thiết kế để bảo vệ một nhóm đối tượng đôi khi lại gây hậu quả tồi tệ hơn cho chính nhóm đó, hoặc tạo ra những “vùng xám” cho người lách luật. Đặt vào lĩnh vực dịch vụ pháp lý, trong khi BLDS năm 2015 bảo vệ quyền tự do thỏa thuận và cho phép bên nhận ủy quyền được hưởng thù lao, kể cả theo cơ chế hứa thưởng dựa trên kết quả công việc (Điều 570 đến Điều 573), thì các quy định này lại bị một bộ phận cá nhân, tổ chức phi luật sư lợi dụng để cung cấp dịch vụ pháp lý thương mại thường xuyên mà không đáp ứng điều kiện gia nhập thị trường nghiêm ngặt của Luật Luật sư. Phần thực trạng và biểu hiện cụ thể của nghịch lý này được phân tích tại Mục 3.

Kinh nghiệm từ các quốc gia thông luật (Common Law) như Hoa Kỳ cho thấy lỗ hổng này đã được kiểm soát bằng các chế định và án lệ chặt chẽ. Luật Hoa Kỳ công nhận quyền tự bào chữa (pro se) của công dân, nhưng cấm sử dụng giấy ủy quyền (power of attorney) để thay mặt người khác tham gia tranh tụng hoặc tư vấn pháp lý thương mại [6]. Theo án lệ tại quốc gia này, giấy ủy quyền dân sự không thể được sử dụng như một công cụ để né tránh điều kiện gia nhập Đoàn luật sư và cấp phép cho người không phải luật sư hành xử như luật sư [7]. Mọi hành vi của người không phải luật sư thực hiện công việc có tính chuyên môn pháp lý chuyên sâu để nhận thù lao đều có thể bị khép vào hành vi “cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép” (Unauthorized Practice of Law - UPL) [8].

Về mặt học thuyết, “Bảo vệ người tiêu dùng” (consumer protection) chỉ ra rằng việc dành phạm vi hành nghề cho luật sư không nhằm bảo hộ lợi ích nhóm mà để bảo vệ công chúng trước các rủi ro hệ thống [9]. Khác với chủ thể phi luật sư, luật sư chính thống bị ràng buộc bởi quy tắc đạo đức nghề nghiệp, cơ chế giám sát kỷ luật và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Khi ranh giới bị xóa nhòa, thị trường rơi vào trạng thái “bất đối xứng thông tin” (information asymmetry) [10], nơi người dân không thể thẩm định năng lực của người mạo danh, từ đó dẫn đến thiệt hại khó khắc phục và gây thất thu thuế. Do đó, pháp luật Việt Nam cần thiết lập một hành lang pháp lý đủ nghiêm để nhận diện và xử lý hành vi lợi dụng ủy quyền nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép, trả lại đúng bản chất hỗ trợ, phi thương mại của chế định đại diện theo ủy quyền.

3. Thực trạng hành vi mạo danh, cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép và nghịch lý điều tiết

Thứ nhất, sự chồng lấn chức năng, chuỗi hành vi lách luật và hệ lụy.

Tại nhiều địa phương, không ít cá nhân không có chứng chỉ hành nghề đã nhận ủy quyền để thực hiện công việc có thù lao như một luật sư thực thụ, từ tư vấn pháp luật, soạn thảo đơn, khiếu nại đất đai, nhận ủy quyền ngoài tố tụng cho đến nhận ủy quyền tham gia tranh tụng. Nguyên nhân trực tiếp là việc đăng ký kinh doanh hoạt động đại diện, tư vấn pháp luật còn được hiểu chưa thống nhất, không phân định rõ giữa điều kiện kinh doanh thông thường theo Luật Doanh nghiệp và điều kiện hành nghề có điều kiện chuyên biệt do Bộ Tư pháp quản lý, từ đó tạo ra kẽ hở.

Đánh giá về lỗ hổng này, tại Phần I Mục 3 của Tờ trình dự án Luật Luật sư (sửa đổi) của Bộ Tư pháp khẳng định [11]:“ (iv) Tình trạng cá nhân, tổ chức không phải là luật sư nhưng cung cấp dịch vụ pháp lý như luật sư vẫn tồn tại ở nhiều địa phương. Việc đăng ký kinh doanh hoạt động đại diện, tư vấn pháp luật còn có cách hiểu chưa thống nhất dẫn đến tình trạng cho phép những người không đủ tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp luật sư được cung cấp dịch vụ pháp lý như luật sư.”

Điển hình, một số công ty không có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý nhưng cố tình đặt tên gây nhầm lẫn, chẳng hạn giữa “Công ty Luật TNHH” và “Công ty TNHH Luật”, thoạt nghe tưởng là một, nhưng thực tế là hai loại hình khác nhau [12]. Trên thực tế, chuỗi hành vi của người cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép thường khép kín: tư vấn pháp luật trước, thỏa thuận thù lao ẩn sau hợp đồng dịch vụ, rồi hợp thức hóa bằng văn bản ủy quyền “không thù lao”. Bằng cách đó, chủ thể không phải luật sư biến một cơ chế hỗ trợ dân sự không thường xuyên thành hoạt động kinh doanh dịch vụ pháp lý, qua đó né nghĩa vụ thuế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, nghĩa vụ tham gia Đoàn Luật sư và mọi chế tài đạo đức nghề nghiệp. Đáng lưu ý, nhiều người dân, thậm chí một số cử nhân luật mới ra trường, vẫn lầm tưởng rằng cứ có bằng cử nhân luật là luật sư, đó một biểu hiện của bất đối xứng thông tin giữa công chúng và thị trường dịch vụ pháp lý.

Hệ lụy không chỉ dừng ở việc người dân bị lừa dối, giao tài sản và niềm tin sai chỗ, mà còn gây thất thu ngân sách và làm méo mó thị trường. Tổ chức hành nghề luật sư hợp pháp phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế, nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp cho các hợp đồng dịch vụ pháp lý; ngược lại, các đối tượng mạo danh thường yêu cầu khách hàng ký hợp đồng ủy quyền “không thù lao” để hợp thức hóa tư cách đại diện, trong khi khoản tiền thực nhận lại được thực hiện bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản cá nhân, dẫn đến nhà nước gần như thất thu thuế từ thị trường ngầm này.

Tại các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, cơ quan chức năng đã phải can thiệp bằng cả chế tài hành chính và hình sự. Trên thực tế, một số doanh nghiệp đăng ký mã ngành “tư vấn quản lý” nhưng treo biển hiệu chứa các từ ngữ gây nhầm lẫn như “Văn phòng Luật”, “Hãng Luật”, “Công ty TNHH Luật” để cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép đã bị xử phạt vi phạm hành chính [12]. Ở góc độ hình sự, đã có những vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong đó đối tượng làm giả Thẻ Luật sư, mạo danh thành viên Đoàn Luật sư để ký hợp đồng dịch vụ pháp lý, nhận tiền rồi bỏ trốn, gây tổn hại nghiêm trọng đến uy tín của giới luật sư chính thống [13].

Thứ hai, nghịch lý điều tiết nhìn từ thực tiễn xét xử

Hệ quả sâu xa của việc chưa phân định rõ ranh giới còn thể hiện ở một nghịch lý điều tiết. Trong vụ tranh chấp hợp đồng hứa thưởng liên quan đến căn nhà 446-448 Nguyễn Thị Minh Khai (Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh) được Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm năm 2016 [14], ông Đặng Đình Thịnh, vốn là một luật gia [15] không phải luật sư, được ủy quyền liên hệ các bộ, ngành để đòi lại tài sản và thỏa thuận mức hứa thưởng 35% giá trị nhà, đất. Tòa án đã công nhận thỏa thuận và buộc bên ủy quyền chi trả hơn 54 tỷ đồng theo hợp đồng đã cam kết. Bản chất công việc đó chính là đại diện ngoài tố tụng có thu thù lao.

Ngược lại, tại Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT ngày 24/10/2024, Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh lại tuyên vô hiệu thỏa thuận hứa thưởng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý của một luật sư khi viện dẫn điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư và Quy tắc 9.2 Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam. Lập luận của Tòa thực chất coi khoản hứa thưởng như một lợi ích nằm ngoài thù lao đã thỏa thuận; cách tiếp cận này, vốn dựa trên một quyết định giám đốc thẩm đơn lẻ, chưa phân biệt giữa khoản thưởng được thỏa thuận minh bạch ngay trong hợp đồng và khoản lợi ích bị đòi hỏi thêm ngoài hợp đồng. Cùng một cơ chế thù lao theo kết quả, người không phải luật sư được pháp luật dân sự thừa nhận và bảo vệ, còn luật sư vốn là chủ thể đã qua đào tạo, tập sự, kỳ kiểm tra kết quả tập sự, bồi dưỡng nghiệp vụ hằng năm và chịu kỷ luật nghề nghiệp lại bị giới hạn, thậm chí hợp đồng có hứa thưởng (đã kê khai, nộp thuế đầy đủ) có nguy cơ bị tuyên vô hiệu chỉ vì mang danh luật sư.

Cần lưu ý rằng hai vụ việc trên không hoàn toàn cùng một mặt bằng pháp lý. Vụ năm 2016 được giải quyết khi pháp luật chưa coi hoạt động đại diện ngoài tố tụng có thù lao là “dịch vụ pháp lý” có điều kiện, nên thỏa thuận của người không phải luật sư được điều chỉnh thuần túy bằng chế định hứa thưởng dân sự; sự khác biệt về kết quả, do đó, một phần là hệ quả của việc Nhà nước điều tiết nghề luật sư. Điều quan trọng là chính sự không tương xứng này sẽ được Dự thảo Luật khắc phục theo hai chiều: một mặt, khi định nghĩa “dịch vụ pháp lý” được mở rộng để bao quát đại diện ngoài tố tụng có tính thương mại (khoản 4 Điều 2), thì hợp đồng kiểu năm 2016 do người không đủ điều kiện hành nghề thực hiện sẽ có đối tượng trái pháp luật và có nguy cơ vô hiệu, qua đó triệt tiêu lợi thế của chủ thể phi luật sư; mặt khác, khi thù lao theo tỷ lệ phần trăm của luật sư được luật hóa, khoản hứa thưởng minh bạch của luật sư không còn lý do bị tuyên vô hiệu. Như vậy, “nghịch lý điều tiết” về bản chất là tình trạng quá độ của một khung pháp luật chưa đồng bộ; giá trị của việc nhận diện nó là thúc đẩy giải quyết đồng thời cả hai chiều, thay vì chỉ nới lỏng cho luật sư hoặc chỉ siết chặt người phi luật sư.

Tóm lại, đây là một sự bất bình đẳng ngược: chủ thể chịu ít ràng buộc nghề nghiệp nhất lại được hưởng phạm vi tự do rộng nhất, tạo động lực khiến nhiều cá nhân núp bóng đại diện ủy quyền dân sự để hành nghề có thù lao thường xuyên. Nguyên nhân là định nghĩa “dịch vụ pháp lý” hiện hành chưa bao quát hoạt động đại diện ngoài tố tụng mang tính thương mại, cộng với công tác hậu kiểm còn mờ nhạt và nhận thức của người dân chưa đầy đủ. Thực trạng này đặt ra yêu cầu kép: vừa xóa bỏ vùng xám tạo lợi thế cho hành nghề không chính thống, vừa luật hóa rõ ràng cơ chế tính thù lao dựa trên kết quả. Nguyên nhân cốt lõi khiến các đối tượng mạo danh, cung cấp dịch vụ trái phép có thể phát triển mạnh mẽ chính là nhờ pháp luật đang thả nổi cho họ quyền được hứa thưởng theo Bộ luật Dân sự; do đó, việc xử lý nạn mạo danh, cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép không thể thành công nếu không giải quyết tận gốc sự bất bình đẳng về cơ chế thù lao này

Đáng chú ý, nút thắt này đang đứng trước cơ hội được tháo gỡ tại điểm c khoản 3 Điều 18 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), khi nhà làm luật lần đầu tiên ghi nhận phương thức “mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá trị vụ việc”. Sự ghi nhận này không chỉ phản ánh đúng bản chất của quan hệ dân sự “hứa thưởng” mà còn là cơ sở pháp lý định hướng cho các cơ quan tài phán: khi được thông qua, Tòa án sẽ không thể áp dụng khiên cưỡng các quy định về đạo đức để tuyên vô hiệu một thỏa thuận thù lao đã được chính Luật Luật sư cho phép và định danh, từ đó bảo đảm để luật sư được tự do thỏa thuận thù lao minh bạch trong khuôn khổ pháp luật.

Sự ghi nhận của Dự thảo cũng đưa pháp luật Việt Nam tiệm cận nền tảng lý luận quốc tế. Giáo sư Herbert M. Kritzer (2004) [16] đã chứng minh cơ chế thù lao theo kết quả (contingency fee) không phải là sự thỏa hiệp về đạo đức, mà đóng vai trò thiết yếu trong việc mở rộng khả năng tiếp cận công lý (access to justice), cho phép khách hàng yếu thế về tài chính vượt qua rào cản chi phí ban đầu để thuê luật sư. Theo Kritzer, mức tỷ lệ phần trăm cao về bản chất là “phần bù đắp rủi ro” (risk premium) hợp lý khi luật sư phải đối mặt với khả năng mất trắng công sức; rủi ro này buộc luật sư nghiên cứu hồ sơ kỹ hơn, sàng lọc và loại bỏ các vụ kiện phù phiếm, qua đó giảm tải cho hệ thống tư pháp.

4. Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm và sự bất đối xứng trong chế tài

Khung pháp luật để xử lý hành vi mạo danh, cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép đang dần hình thành qua Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) và Nghị định 109/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, đặt cạnh thực tiễn, hệ thống chế tài bộc lộ một sự bất đối xứng đáng lưu ý: luật sư bị ràng buộc và chế tài hết sức chặt chẽ, trong khi hành vi cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép của người không phải là luật sư nhưng khéo léo trá hình dưới vỏ bọc hợp đồng ủy quyền dân sự lại chưa bị xử lý tương xứng.

Thứ nhất, Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) có một bước tiến quan trọng khi làm rõ phạm vi “dịch vụ pháp lý” tại khoản 4 Điều 2: bao gồm tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác [17]. Việc chính thức đưa “đại diện ngoài tố tụng” vào khái niệm dịch vụ pháp lý khiến mọi hoạt động đại diện ngoài tố tụng có tính thương mại, thu phí đều phải chịu sự điều chỉnh của Luật Luật sư, qua đó chặn đứng lập luận “chỉ nhận ủy quyền dân sự chứ không cung cấp dịch vụ pháp lý”. Cùng với đó, khoản 3 Điều 6 thiết lập “lệnh cấm”: nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề quảng bá, sử dụng tên gọi gây nhầm lẫn, mạo danh luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư, và cấm cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép dưới bất kỳ hình thức nào.

Làm rõ thêm lý do và hậu quả pháp lý đứng sau điều cấm này, tại Phần IV Mục 3.2 của Tờ trình dự án Luật nêu [11]:“Dự thảo Luật cũng quy định nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề luật sư nhưng quảng bá, giới thiệu, sử dụng tên gọi gây nhầm lẫn, mạo danh luật sư, tổ chức hành nghề luật sư; cung cấp dịch vụ pháp lý có thu thù lao dưới bất kỳ hình thức nào. Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi thuộc trường hợp này bị buộc chấm dứt hành vi vi phạm, bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định.”

Thứ hai, chế tài xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP đã dành Mục 1 Chương II (Điều 7 đến Điều 10) cho hoạt động luật sư và Mục 2 (Điều 11, Điều 12) cho hoạt động tư vấn pháp luật. Đối với hành vi mạo danh, điểm a khoản 7 Điều 8 phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng đối với việc hành nghề luật sư khi không có chứng chỉ hoặc chưa gia nhập Đoàn luật sư; nghiêm khắc hơn, điểm e khoản 8 Điều 8 phạt từ 30 đến 40 triệu đồng đối với hành vi “cung cấp dịch vụ pháp lý, hoạt động tư vấn pháp luật với danh nghĩa luật sư hoặc mạo danh luật sư để hành nghề luật sư; treo biển hiệu khi chưa được cấp chứng chỉ hoặc chưa gia nhập Đoàn luật sư”. Ở cấp độ tổ chức, điểm b khoản 6 Điều 9 phạt từ 40 đến 50 triệu đồng đối với hành vi hoạt động, treo biển với danh nghĩa tổ chức hành nghề luật sư mà không phải là tổ chức hành nghề luật sư; trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, khoản 4 Điều 11 và điểm đ khoản 3 Điều 12 cũng xử phạt hành vi hoạt động tư vấn pháp luật trái phép. Ngoài phạt tiền, Nghị định buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.

Đáng chú ý, điểm d khoản 7 Điều 8 Nghị định này phạt từ 20 đến 30 triệu đồng đối với hành vi “nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý”. Đây chính là phiên bản chế tài hành chính của điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư; cấu trúc điều khoản một lần nữa khẳng định chế tài chỉ nhắm đến lợi ích “ngoài” hợp đồng, chứ không nhắm đến khoản hứa thưởng được ghi nhận minh bạch “trong” hợp đồng, củng cố cho lập luận đã nêu ở nghịch lý điều tiết tại Mục 3.

Thứ ba, sự bất đối xứng: luật sư bị chế tài, hành vi cung cấp dịch vụ trái phép thì chưa. Đối với luật sư, chế tài là kép và rất chặt chẽ: vừa chịu kỷ luật nghề nghiệp của Đoàn và Liên đoàn Luật sư (cao nhất có thể đến xóa tên, thu hồi chứng chỉ), vừa chịu hàng loạt chế tài hành chính cụ thể tại Điều 8 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, lại còn đối mặt nguy cơ hợp đồng dịch vụ pháp lý có thỏa thuận hứa thưởng bị tuyên vô hiệu như tại Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT. Khi điểm c khoản 3 Điều 18 Dự thảo Luật cho phép tính thù lao theo “tỷ lệ phần trăm của giá trị vụ việc”, luật sư có thể đưa điều khoản hứa thưởng vào ngay hợp đồng dịch vụ pháp lý từ thời điểm giao kết; khi đó khoản này là “thù lao đã thỏa thuận trong hợp đồng” nên loại trừ rủi ro bị áp dụng chế tài theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP hay bị xem là vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Ở chiều ngược lại, người cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép nhưng núp bóng đại diện theo ủy quyền dân sự thuần túy, không xưng danh luật sư, không treo biển hiệu tổ chức hành nghề luật sư, thì các chế tài về mạo danh rất khó với tới. Nhóm này không chịu kỷ luật đạo đức nghề nghiệp, không bị ràng buộc nghĩa vụ thuế hay bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, cũng không phải đáp ứng các tiêu chuẩn về bằng cấp, đào tạo nghề, kỳ kiểm tra kết quả tập sự hay bồi dưỡng nghiệp vụ hằng năm. Hệ quả là trên thực tế, phần lớn các cá nhân này vẫn đứng ngoài vòng xử lý của pháp luật.

Như vậy, nghịch lý điều tiết ở Mục 3 được nối dài thành một nghịch lý về chế tài: pháp luật và thực tiễn xử lý đang đè nặng lên luật sư (chủ thể hành nghề hợp pháp, minh bạch) trong khi hành vi cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép dùng phương pháp trá hình lại kinh doanh ngoài tầm kiểm soát và chưa bị xử lý tương xứng. Chỉ khi định nghĩa dịch vụ pháp lý được mở rộng để bao quát cả hoạt động đại diện ngoài tố tụng mang tính thương mại (khoản 4 Điều 2 Dự thảo Luật) và công tác hậu kiểm liên ngành được vận hành đồng bộ, chế tài mới thực sự chạm tới nhóm chủ thể đang trá hình này, qua đó thiết lập lại sự công bằng trong điều tiết thị trường dịch vụ pháp lý.

5. Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

Chế tài và lệnh cấm dù tiến bộ vẫn phụ thuộc vào khâu tổ chức thực hiện. Để đưa quy định vào thực tiễn và khắc phục sự bất đối xứng nêu trên, nhóm tác giả kiến nghị một số giải pháp sau:

Một là, kiểm soát tại các cơ quan tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cần rà soát kỹ tư cách người đại diện theo ủy quyền; làm rõ và ngăn chặn trường hợp cá nhân không có chứng chỉ hành nghề luật sư nhưng nhận đại diện nhiều vụ án trong thời gian ngắn nhằm trục lợi, biến ủy quyền thành công cụ hành nghề thương mại bất hợp pháp.

Hai là, đồng bộ hóa cơ chế cấp phép và phân định rõ điều kiện: Thiết lập phối hợp liên ngành giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và Sở Tư pháp; không nhầm lẫn giữa điều kiện kinh doanh với điều kiện hành nghề có điều kiện; kiên quyết không cấp đăng ký ngành nghề tư vấn pháp luật cho chủ thể không đáp ứng điều kiện của tổ chức hành nghề luật sư.

Ba là, tăng cường hậu kiểm và áp dụng nghiêm chế tài: Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và xử phạt theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP đối với các cá nhân, văn phòng mượn danh “dịch vụ soạn thảo đơn”, “tư vấn dịch vụ đất đai”, “dịch vụ thu hồi nợ”, “Công ty TNHH Luật”…, nơi thường diễn ra chuỗi vi phạm từ tư vấn “chui” đến nhận ủy quyền trái phép; đồng thời công khai kết quả xử lý để tạo sức răn đe.

Bốn là, bảo đảm quyền hành nghề và sự linh hoạt hợp pháp cho luật sư: Nhằm bảo đảm tính khả thi của điểm c khoản 3 Điều 18 Dự thảo Luật, kiến nghị Liên đoàn Luật sư Việt Nam rà soát, sửa đổi Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư, đặc biệt là Quy tắc 9, theo hướng làm rõ: việc luật sư và khách hàng tự nguyện thỏa thuận mức thù lao theo tỷ lệ phần trăm giá trị vụ việc và ghi nhận minh bạch trong hợp đồng là hợp pháp, không vi phạm Quy tắc 9.2. Đồng thời, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, cơ chế thù lao theo tỷ lệ phần trăm cần được giới hạn phạm vi áp dụng hợp lý – chẳng hạn không áp dụng cho án hình sự và một số việc hôn nhân, gia đình – nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích.

Năm là, đẩy mạnh truyền thông pháp luật: Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các Đoàn Luật sư và cơ quan quản lý phối hợp tuyên truyền để người dân phân biệt luật sư với cử nhân luật, luật gia, người nhận đại diện theo ủy quyền thông thường, và biết cách tra cứu thông tin luật sư, tổ chức hành nghề luật sư hợp pháp.

6. Kết luận

Cải cách thể chế về luật sư và dịch vụ pháp lý không chỉ là câu chuyện phân định quyền cung cấp dịch vụ pháp lý hợp pháp hay quản lý nhà nước, mà suy cho cùng phải đặt trên nền tảng bảo vệ tối đa quyền lợi của người dân, nhất là nhóm yếu thế, trong việc tiếp cận công lý an toàn. Sự ra đời của Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) và hệ thống chế tài tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP là cơ hội quan trọng để chấm dứt một nghịch lý chế tài đầy rủi ro, nơi chủ thể không đủ điều kiện hành nghề mượn danh “đại diện ủy quyền” để trục lợi ngoài tầm kiểm soát đạo đức và trách nhiệm, trong khi luật sư lại đối mặt với sự bất bình đẳng trong cơ chế ghi nhận thù lao.

Việc thiết lập quy định rõ ràng, minh bạch và xử lý nghiêm minh hành vi mạo danh, cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép, song hành cùng việc hợp pháp hóa cơ chế hứa thưởng minh bạch cho luật sư, chính là giải pháp song hành để giải quyết triệt để vấn đề. Chỉ khi sự công bằng và minh bạch được thiết lập ngay trong hệ thống quy phạm điều chỉnh người hành nghề luật, người dân mới được bảo vệ khỏi rủi ro của sự bất đối xứng thông tin, từ đó được trợ giúp bởi những người hành nghề hợp pháp trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[1] Báo cáo số 174/BC-BTP ngày 26/3/2026 của Bộ Tư pháp ban hành kèm Phụ lục số 02 thống kê số lượng luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, kết quả hành nghề của Luật sư Việt Nam.

[2] Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) Điều 7. Tiêu chuẩn luật sư: Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm chính và trung thực; có bằng từ cử nhân luật trở lên; hoàn thành khoá đào tạo nghề luật sư; hoàn thành việc tập sự hành nghề luật sư và đạt yêu cầu kỳ thi quốc gia về luật sư, trừ trường hợp được miễn tập sự hành nghề luật sư.

[3] Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) Điều 8. Đào tạo nghề luật sư: Người có bằng từ cử nhân luật trở lên được tham dự khoá đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật sư; thời gian đào tạo nghề luật sư là 12 tháng, trừ trường hợp được giảm thời gian đào tạo; người hoàn thành khóa đào tạo được cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư.

[5] Sunstein, C. R. (1990), Paradoxes of the Regulatory State, The University of Chicago Law Review, 57(2), tr. 407–441 (phân tích việc can thiệp pháp lý đôi khi gây hậu quả tiêu cực cho chính đối tượng cần bảo vệ hoặc tạo “vùng xám” do thiếu đồng bộ trong thiết kế chính sách). https://chicagounbound.uchicago.edu/context/uclrev/article/4666/viewcontent/57UChiLRev407.pdf 

[7] Xem án lệ: Kohlman v. Western Pennsylvania Hospital, 438 Pa. Super. 352, 652 A.2d 849 (1994). Tòa Thượng thẩm Pennsylvania xác định giấy ủy quyền không thể được dùng như một công cụ để “cấp phép” cho người không phải luật sư hành xử như luật sư, vì điều đó sẽ vô hiệu hóa lệnh cấm hành nghề luật trái phép trong Bộ luật Tư pháp.

[8] Về khái niệm UPL, xem: Restatement (Third) of the Law Governing Lawyers § 4 (Am. Law Inst. 2000), giải thích chi tiết về phạm vi các công việc được coi là đặc quyền của luật sư chuyên nghiệp và các hành vi vi phạm của thực thể phi luật sư.

[9] Xem luận điểm chuyên sâu của Giáo sư Deborah L. Rhode trong bài nghiên cứu: Deborah L. Rhode, In the Interests of Justice: Reforming the Legal Profession, Oxford University Press, 2003, tr. 115-118; và Deborah L. Rhode, "Policing the Professional Monopoly: A Constitutional and Empirical Analysis of Unauthorized Practice of Law Guidelines", Stanford Law Review, Vol. 34, No. 1, 1981, tr. 1-112. Học giả phân tích rằng việc kiểm soát cung cấp dịch vụ trái phép (UPL- Unauthorized Practice of Law) đóng vai trò thiết yếu để ngăn chặn "rủi ro hệ thống" phát sinh từ sự bất đối xứng thông tin giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ không chuyên nghiệp.

[10] Xem thêm về lý thuyết gốc về bất đối xứng thông tin và hiện tượng "Thị trường quả chanh" (The Market for Lemons) tại: George A. Akerlof (1970), "The Market for 'Lemons': Quality Uncertainty and the Market Mechanism", The Quarterly Journal of Economics, Vol. 84, No. 3, tr. 488-500. Đường dẫn truy cập trực tiếp: https://doi.org/10.2307/1879431. Trong nghiên cứu này, tác giả chứng minh rằng việc thiếu hụt thông tin chuyên môn của một bên trong giao dịch sẽ dẫn đến rủi ro đạo đức, sự lựa chọn đối nghịch và làm méo mó cơ chế vận hành lành mạnh của thị trường.

[11] Xem thêm Tờ trình số 57/TTr-BTP của Bộ Tư pháp trình Chính phủ hồ sơ chính sách Luật Luật sư (sửa đổi). Theo kế hoạch, dự thảo Luật sẽ được trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026).

[13] Xem thêm Tuổi Trẻ online (2023), Rộ tình trạng giả mạo luật sư để lừa nạn nhân bị lừa đảo trước đó, ngày 20/11/2023 https://tuoitre.vn/ro-tinh-trang-gia-mao-luat-su-de-lua-nan-nhan-bi-lua-dao-truoc-do-20231120115415107.htm 

[14] Xem thêm bài viết của Hoàng Yến, Luật gia thắng kiện 54 tỷ đồng thân chủ hứa thưởng, Báo Dân Việt (dẫn lại Báo Pháp Luật TP.HCM), ngày 07/5/2016, https://danviet.vn/luat-gia-thang-kien-54-ty-dong-than-chu-hua-thuong-7777678595-d437661.html; bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 05/5/2016.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

2. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

3. Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2026, Bộ Tư pháp đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).

4. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự (Luật số 91/2015/QH13), Hà Nội.

5. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số 92/2015/QH13), Hà Nội.

6. Quốc hội (2006, sửa đổi, bổ sung 2012), Luật Luật sư, Hà Nội.

7. Quốc hội (2026), Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) - Phiên bản trình xin ý kiến, Hà Nội.

8. Chính phủ (2026), Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (có hiệu lực từ ngày 18/5/2026).

9. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 121/NQ-CP ngày 06/5/2026 về Chính sách của Luật Luật sư (sửa đổi).

10. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 174/BC-BTP ngày 26/3/2026 và Tờ trình số 57/TTr-BTP ngày 17/4/2026 về dự án Luật Luật sư (sửa đổi), Hà Nội.

11. Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) dự thảo ngày 22/5/2026 gửi lấy ý kiến cơ quan, tổ chức.

12. Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2019), Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (Quy tắc 8, Quy tắc 9.2).

13. Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT ngày 24/10/2024.

14. Kritzer, Herbert. M (2004), Risks, reputations, and rewards: Contingency fee legal practice in the United States, Stanford University Press.

15. Hoàng Yến (2016), “Luật gia thắng kiện 54 tỉ đồng thân chủ hứa thưởng”, Báo Dân Việt (dẫn lại Báo Pháp Luật TP.HCM), ngày 07/5/2016.

16. Lê Anh Tú (2025), “Hợp đồng hứa thưởng trong hoạt động hành nghề luật sư: Vấn đề hiệu lực và tiếp cận công lý”, Tạp chí Điện tử Luật sư Việt Nam (LSVN.vn).

17. Đặng Kim Chinh (2026), “Án lệ hợp đồng hứa thưởng giữa luật sư và khách hàng: Khi ‘vi phạm điều cấm của luật’ bị hiểu lệch”, Tạp chí Điện tử Luật sư Việt Nam (LSVN.vn).

Tác giả bài viết: PGS.TS. BÀNH QUỐC TUẤN Luật sư NGUYỄN PHÚ THÀNH Trường Đại học Thủ Dầu Một.

Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

ĐỐI TÁC CỦA LUẬT PHÁP LÝ
ngan háng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây