TANDTC ban hành nghị quyết hướng dẫn giải quyết tranh chấp về đặt cọc

Thứ hai - 12/10/2026 04:59

(LSVN) - Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn nhiều vấn đề quan trọng trong giải quyết tranh chấp đặt cọc.

Theo Nghị quyết, thỏa thuận đặt cọc là giao dịch dân sự, được thực hiện theo quy định tại Điều 116 và Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015. Thỏa thuận này có thể được lập thành hợp đồng riêng hoặc ghi nhận bằng điều khoản trong hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm. Trường hợp luật khác quy định thỏa thuận đặt cọc phải được thể hiện bằng văn bản thì các bên phải tuân thủ.

Về hiệu lực, thỏa thuận đặt cọc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đáng chú ý, thỏa thuận đặt cọc để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng vẫn có thể có hiệu lực dù nội dung thỏa thuận chưa rõ ràng dẫn đến hợp đồng chính không được giao kết hoặc không được thực hiện, nếu bản thân thỏa thuận đặt cọc đáp ứng các điều kiện có hiệu lực theo quy định pháp luật.

Nghị quyết cũng quy định thỏa thuận đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng có thể có hiệu lực ngay cả khi tại thời điểm đặt cọc, hợp đồng dự kiến sẽ vô hiệu nếu được giao kết, với điều kiện thỏa thuận đặt cọc đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
 

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.
Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.

Về tài sản đặt cọc, Điều 5 xác định tài sản có thể là tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác, trong đó có cổ phiếu, trái phiếu và tài sản số. Tài sản đặt cọc phải không thuộc trường hợp bị cấm hoặc hạn chế giao dịch theo quy định pháp luật, có thể giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ và xác định được giá trị bằng một khoản tiền nhất định tại thời điểm đặt cọc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Giá trị tài sản đặt cọc có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp luật có quy định khác. Nếu các bên không thỏa thuận về giá trị bằng tiền của tài sản đặt cọc, Tòa án xác định giá trị tại thời điểm xét xử sơ thẩm.

Đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Nghị quyết quy định việc đặt cọc tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất phải được sự đồng ý của tất cả chủ sở hữu chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác. Nếu tài sản thuộc sở hữu chung theo phần, bên đặt cọc chỉ được đặt cọc phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.

Tác giả bài viết: MINH ANH

Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

ĐỐI TÁC CỦA LUẬT PHÁP LÝ
ngan háng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây