1. Đặt vấn đề:
Có thể thấy rằng thụ lý vụ án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự hết sức quan trọng, bởi lẽ việc thụ lý vụ án chính xác và đúng thời hạn tố tụng thì không những đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện mà còn giúp Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sau này được nhanh chóng, không phải khắc phục lại những sai sót tại thời điểm thụ lý vụ án. Ngoài ra, thủ tục thụ lý vụ án còn thể hiện tính quan trọng bởi đây là thủ tục tiên quyết để Toà án tiến hành giải quyết vụ án dân sự sau này.
Mặc dù, thủ tục thụ lý vụ án thể hiện tính quan trọng như trên nhưng hiện nay Bộ luật Tố tụng dân sự không có điều luật nào quy định rõ căn cứ để Toà án thụ lý vụ án. Từ đó dẫn đến hệ quả là Toà án áp dụng không thống nhất trong việc vụ thụ lý vụ án dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, làm giảm lòng tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật nói chung và đối với ngành Toà án nói riêng. Do đó, cần quy định điều luật về điều kiện thụ lý vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự là hết sức cấp thiết và quan trọng hiện nay.
Việc quy định điều luật về điều kiện thụ lý vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự sẽ mang lại hiệu quả đạt khi áp dụng là:
Thứ nhất, thống nhất việc áp dụng pháp luật khi thụ lý hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự. Tránh tình trạng hồ sơ khởi kiện giống nhau nhưng có Toà thì thụ lý vụ án còn có Toà thì yêu cầu người khởi kiện phải chỉnh sửa đơn khởi kiện và kèm theo tài liệu chứng cứ bổ sung để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.
Thứ hai, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân khi nộp hồ sơ khởi kiện tại Toà án, tránh tình trạng để người dân bức xúc khi chỉnh sửa đơn khởi kiện nhiều lần cũng như việc giao nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
Thứ ba, giúp Thẩm phán được lãnh đạo phân công án giải quyết vụ án sau này được thuận lợi và nhanh chóng hơn, không phải khắc phục những sai sót của việc nhận đơn khởi kiện trước đây.
Chính vì những lý do trên nên người viết đã chọn đề tài “Cần quy định điều luật về điều kiện thụ lý vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự” làm bài viết nghiên cứu.
2. Nội dung quy định pháp luật về điều kiện thụ lý vụ án dân sự
Mặc dù pháp luật chưa có điều luật nào quy định cụ thể về điều kiện thụ lý vụ án dân sự. Tuy nhiên để thụ lý vụ án dân sự thì Toà án cần phải xem xét các điều kiện sau đây:
2.1. Về quyền khởi kiện:
Quyền khởi kiện là một trong những biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức. Tuy nhiên, không phải bất kì cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức nào cũng có quyền khởi kiện. Quyền khởi kiện chỉ thuộc về cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể họ đại diện hợp pháp. Do vậy khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án phải xác định xem họ có quyền khởi kiện vụ án hay không.
Mặc dù quyền khởi kiện được xem là một trong những quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, vì mục đích bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em thì pháp luật còn hạn chế quyền khởi kiện trong trường hợp là “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” (Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Tuy nhiên, việc quy định trên không hạn chế yêu cầu khởi kiện ly hôn đối với người vợ. Do vậy, để đảm bảo quyền, lợi ích của công dân và đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật về thụ lý vụ án dân sự thì việc xác định quyền khởi kiện là điều quan trọng và cần thiết.
2.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Việc xác định thẩm quyền là một điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động bình thường và hợp lý của bộ máy nhà nước. Đồng thời, việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa án cũng góp phần cho các Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ và người dân dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện. Thẩm quyền của Tòa án được xác định một cách chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình[1]
2.3. Về điều kiện khởi kiện:
Điều kiện khởi kiện là điều kiện cần thiết để cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức có quyền nộp đơn khởi kiện và là căn cứ để Toà án xem xét thụ lý vụ án. Do vậy, nếu pháp luật quy định rằng khi khởi kiện cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức phải đáp ứng một hoặc một số điều kiện cần thiết nhưng họ không đáp ứng thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện mà không thụ lý vụ án dân sự.
Ví dụ: Công ty A là người sử dụng lao động ký hợp đồng với ông B, trong hợp đồng ghi rõ ông B sẽ được Công ty cho đi học nghề 01 năm, đồng thời ông B có nghĩa vụ làm việc tại Công ty ít nhất là 05 năm kể từ thời điểm học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong ông B chỉ làm việc ở Công ty A 02 năm. Công ty A khởi kiện ông B ra Tòa án buộc ông B hoàn trả chi phí đào tạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Trường hợp này, theo quy định tại Điều 188 Bộ luật lao động năm 2019 thì Công ty A chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án vì chưa tiến hành thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động.
Hoặc đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại khoản 2 Điều 235 Luật đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của HĐTP TAND TC hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án; Điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành. Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.
2.4. Về hình thức đơn khởi kiện:
Phải đúng theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của HĐTP TAND Tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự.
2.5. Về nội dung đơn khởi kiện:
- Người viết tập trung nghiên cứu nội dung này bởi lẽ thực tế xảy ra là cùng nội dung yêu cầu khởi kiện như nhau nhưng có Toà thì yêu cầu người khởi kiện phải ghi đầy đủ nội dung nhưng có Toà thì không không bắt buộc phải ghi đầy đủ nội dung dẫn đến việc áp dụng không thống nhất trong quá trình nhận đơn khởi kiện của Toà án.
- Theo quy định tại điểm g khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn khởi kiện cần có nội dung là “Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Như vậy pháp luật chưa hướng dẫn giải thích rõ nội dung Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm là cần ghi rõ nội dung gì, dẫn đến việc thụ lý hồ sơ khởi kiện tại Toà án không thống nhất.
- Hiện nay có hai quan điểm khác nhau về các ghi trong nội dung khởi kiện:
Quan điểm 1: Người khởi kiện chỉ cần ghi rõ yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là gì trong đơn khởi kiện được coi là ghi đầy đủ nội dung khởi kiện.
Quan điểm 2: Người khởi kiện bắt buộc phải ghi đầy đủ nội dung thông tin về thời gian, địa điểm, sự kiện pháp lý, nguyên nhân mâu thuẫn, thời điểm phát sinh tranh chấp, quyền và lợi ích của người khởi kiện bị xâm phạm, yêu cầu cụ thể của người khởi kiện đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong đơn khởi kiện.
Đồng thời quan điểm này đề xuất là Toà án nhân dân tối cao nên có hướng dẫn về cách ghi nội dung đơn khởi kiện cho các loại quan hệ tranh chấp để đảm bảo việc áp dụng thống nhất tại Toà án. Tuy nhiên có quan điểm cho rằng do trong quan hệ xã hội phát sinh nhiều quan hệ tranh chấp nên Toà án nhân dân tối cao không thể nào hướng dẫn đầy đủ cách ghi nội dung trong đơn khởi kiện. Nhưng có quan điểm cho rằng mặc dù quan hệ phát sinh tranh chấp nhiều nhưng điều đó không có nghĩa là Toà án không hướng dẫn cách ghi nội dung đơn khởi kiện, nếu trong quá trình áp dụng mà phát sinh quan hệ tranh chấp mới thì Toà án nhân dân tối cao có thể hướng dẫn bổ sung. Nếu thực hiện tốt việc hướng dẫn cách ghi nội dung đơn khởi kiện thì sẽ đảm bảo việc áp dụng thống nhất pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện khi không phải tốn nhiều thời gian, tiền bạc, công sức để chỉnh sửa đơn khởi kiện tại Toà án.
Sau đây là một vài ví dụ về cách ghi nội dung trong đơn khởi kiện về tranh chấp xảy ra phổ biến tại Toà án:
- Về tranh chấp hợp đồng vay tài sản:
Nội dung trong đơn khởi kiện cần có những nội dung chính sau:
Ngày tháng năm cho vay? Hai bên có làm giấy tờ vay gì không? Số tiền vay gốc là bao nhiêu? Hai bên có thoả thuận lãi suất không? thời hạn vay là bao lâu? Mục đích vay là gì? Khi vay thì bên vay có đảm bảo tài sản gì không, nếu có thì ghi cụ thể tài sản đảm bảo? Sau khi vay thì bên vay đã trả gốc và lãi suất gì không, nếu có thì ghi cụ thể? Hiện nay bên vay còn nợ số tiền nào, ghi rõ số tiền gốc và lãi suất? Nay bên cho vay yêu cầu bên vay có trách nhiệm trả số nào? Ngoài ra có yêu cầu gì khác không?
- Về tranh chấp ranh đất:
Nội dung trong đơn khởi kiện cần có những nội dung chính sau:
Phần đất của người khởi kiện là phần đất thửa số mấy? Diện tích? Loại đất? Tờ bản đồ? Đất toạ lạc tại đâu? Do ai đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này có nguồn gốc từ đâu? Hiện nay phần đất này do ai đang quản lý sử dụng?
Cặp phần đất của người khởi kiện là phần đất của người bị kiện thuộc thửa số mấy? Diện tích? Loại đất? Tờ bản đồ? Đất toạ lạc tại đâu? Do ai đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này có nguồn gốc từ đâu? Hiện nay phần đất này do ai đang quản lý sử dụng?
Trong quá trình quản lý, sử dụng thì phần đất của người bị kiện lấn qua phần đất của người khởi kiện có diện tích ngang bao nhiêu mét? dài bao nhiêu mét? tổng diện tích bao nhiêu mét vuông? Hiện phần đất tranh chấp ranh do ai đang quản lý, sử dụng? trên đất có tài sản gì không? của ai trồng hoặc xây dựng?
Nay người khởi kiện yêu cầu người bị kiện có trách nhiệm trả lại phần đất lấn chiếm ranh có diện tích ngang bao nhiêu mét? dài bao nhiêu mét? tổng diện tích bao nhiêu mét vuông? Thuộc phần đất thửa thửa số mấy? Diện tích? Loại đất? Tờ bản đồ? Đất toạ lạc tại đâu? Do người khởi kiện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Đối với tài sản gắn liền trên đất tranh chấp thì người khởi kiện yêu cầu như thế nào? Ngoài ra người khởi kiện có yêu cầu gì khác không?
2.6. Về tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện
- Hiện nay có ba quan điểm khác nhau về việc nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện:
Quan điểm 1: Người khởi kiện chỉ cần nộp đơn khởi kiện đúng mẫu quy định pháp luật và ghi rõ yêu cầu khởi kiện là đủ điều kiện thụ lý chứ không bắt buộc phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ vì trong quá trình giải quyết vụ án sau thì Toà án có thể thu thập. Quan điểm này xuất phát từ việc đảm bảo quyền khởi kiện của người khởi kiện, không hạn chế hoặc gây khó khăn cho người khởi kiện.
Quan điểm 2: Người khởi kiện bắt buộc phải nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.
Quan điểm này không phải không vì quyền và lợi ích hợp pháp hoặc hạn chế quyền khởi kiện của người khởi kiện mà đảm bảo việc khởi kiện phải có căn cứ chứng minh quyền lợi của người khởi kiện bị xâm phạm, hạn chế việc khởi kiện một cách tuỳ tiện, tràn lan. Đồng thời đảm bảo Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sau được nhanh chóng, hơn nữa việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh người khởi kiện bị xâm phạm nhằm giúp đương sự không phải nộp cho Toà án sau này khi mà tài liệu, chứng cứ có thể bị thất lạc hoặc không còn.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án”. Như vậy việc kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm là bắt buộc, trừ trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Điều luật chỉ quy định là khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện thì chỉ bắt buộc người khởi kiện phải nộp kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh mình bị xâm phạm chứ không phải tài liệu, chứng cứ để Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, bởi lẽ việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện hay không sẽ do Thẩm phán được phân công vụ án sau này xem xét.
Mặc dù pháp luật quy định khi nộp đơn khởi kiện thì người khởi kiện ngoài việc nộp đơn khởi kiện ra thì còn phải kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Nhưng hiện nay Toà án nhân dân tối cao chưa hướng dẫn các tài liệu, chứng cứ nào, dẫn đến mỗi Toà án áp dụng khác nhau về việc yêu cầu nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. Cũng tương tự như hướng dẫn nội dung ghi trong đơn khởi kiện thì mỗi quan hệ pháp luật khác nhau thì cần phải hướng dẫn khác nhau.
Quan điểm 3: Người khởi kiện bắt buộc phải tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm, trừ trường hợp tài liệu, chứng cứ chứng minh không có hoặc không còn lưu giữ.
Quan điểm này cũng giống như quan điểm 2 là người khởi kiện bắt buộc phải tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Tuy nhiên đối với những trường hợp hợp tài liệu, chứng cứ chứng minh không có hoặc không còn lưu giữ thì Toà án không bắt buộc người khởi kiện phải nộp kèm theo đơn khởi kiện. Ví như như: Chơi hụi nhưng không có danh sách hụi hoặc không có biên nhận giao nhận tiền hụi nhưng người khởi kiện trình bày có hụi viên khác làm chứng. Như vậy quan điểm này là tuỳ thuộc vào tài liệu, chứng cứ mà người khởi kiện trình bày có hay không để Toà án thu thập và thụ lý vụ án.
2.7. Về thủ tục hoà giải đối thoại
Theo Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án năm 2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021 thì hoà giải, đối thoại là thủ tục được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính[2].
Theo quy định tại Điều 16 Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án năm 2020 thì:
“1. Người khởi kiện, người yêu cầu gửi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính kèm theo tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 190 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 119 của Luật Tố tụng hành chính.
2. Tòa án nhận đơn, vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 121 của Luật Tố tụng hành chính.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 4, 6 và 7 Điều 19 của Luật này thì Tòa án thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện, người yêu cầu biết về quyền được lựa chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên theo quy định của Luật này.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người khởi kiện, người yêu cầu tại khoản 3 Điều này phải trả lời bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác cho Tòa án biết về những nội dung đã được Tòa án thông báo. Trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu trực tiếp đến Tòa án trình bày ý kiến thì Tòa án lập biên bản ghi nhận ý kiến; biên bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của họ. Hết thời hạn này thì tùy từng trường hợp, Tòa án xử lý như sau:
a) Phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật này nếu người khởi kiện, người yêu cầu có ý kiến đồng ý hòa giải, đối thoại;
b) Chuyển đơn để xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng nếu người khởi kiện, người yêu cầu có ý kiến không đồng ý hòa giải, đối thoại;
c) Thông báo lại lần thứ hai cho người khởi kiện, người yêu cầu biết để thực hiện quyền lựa chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên nếu người này chưa có ý kiến trả lời.
5. Nếu quá thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo lần thứ hai quy định tại điểm c khoản 4 Điều này mà người khởi kiện, người yêu cầu vẫn không trả lời thì Tòa án phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật này.
6. Trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu đồng ý hòa giải, đối thoại theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều này hoặc trường hợp họ không trả lời Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại chỉ định Hòa giải viên theo quy định tại Điều 17 của Luật này.
7. Tòa án thông báo bằng văn bản về việc chuyển vụ việc sang hòa giải, đối thoại và văn bản chỉ định Hòa giải viên cho Hòa giải viên, người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp Hòa giải viên được lựa chọn thuộc danh sách Hòa giải viên của Tòa án nhân dân cấp huyện khác thì văn bản chỉ định Hòa giải viên phải được gửi cho Tòa án đó.
8. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều này, người bị kiện phải trả lời bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác về việc đồng ý hoặc không đồng ý tiến hành hòa giải, đối thoại. Hết thời hạn này thì tùy từng trường hợp mà xử lý như sau:
a) Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại nếu người bị kiện đồng ý hòa giải, đối thoại hoặc không trả lời Tòa án;
b) Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại chỉ định Hòa giải viên khác nếu người bị kiện đề nghị thay đổi Hòa giải viên;
c) Tòa án chuyển đơn để xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng nếu người bị kiện không đồng ý hòa giải, đối thoại.
9. Thời gian nhận, giải quyết đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo quy định của Luật này không tính vào thời hiệu khởi kiện, thời hạn xử lý đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính nếu vụ việc được giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng.
10. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này”.
Từ quy định trên có thể thấy rằng Toà án sẽ không tiến hành hoà giải, đối thoại mà thụ lý vụ án dân sự nếu một trong hai bên đương sự không đồng ý hoà giải, đối thoại. Ngoài ra, Điều 19 Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án năm 2020 quy định những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Đồng thời theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 40 của Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án năm 2020 thì Hòa giải viên chuyển đơn và tài liệu kèm theo cho Tòa án đã nhận đơn để tiến hành xem xét, thụ lý vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính trừ tài liệu phải bảo mật quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này[3].
2.8. Về việc gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ theo khoản 9 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự
Theo quy định tại khoản 9 Điều 70 BLTT dân sự hiện hành thì người khởi kiện phải: “Có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Trường hợp vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ”.
Đây là quy định mới được ghi nhận tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mà trước đây chưa được đề cập đến. Nhìn chung việc quy định này thể hiện nguyên tắc tố tụng là công khai, nhằm giúp người bị kiện tiếp cận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà người khởi kiện đã giao nộp cho Toà án. Từ đó, người bị kiện thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ đầy đủ và đúng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích người bị kiện. Tuy nhiên, đối với tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có hoặc tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này thì người khởi kiện không cần phải gửi bản sao cho người bị kiện. Ngoài ra trong trường hợp vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì pháp luật cho phép người khởi kiện có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ[4].
Mặc dù pháp luật quy định việc gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện là nghĩa vụ bắt buộc của người khởi kiện. Tuy nhiên nếu trong trường hợp người khởi kiện không gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho người bị kiện và các đương sự khác có liên quan trong vụ án thì có được xem xét thụ lý vụ án hay không thì pháp luật chưa có hướng dẫn.
2.9. Việc tạm ứng án phí
Theo quy định tại Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành thì sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí[5].
Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Nói tóm lại, thụ lý vụ án dân sự là thủ tục tố tụng dân sự quan trọng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, mặc dù pháp luật có quy định về thủ tục thụ lý vụ án dân sự nhưng lại không có điều luật nào quy định về điều kiện thụ lý vụ án dân sự. Do đó đã dẫn đến hệ lụy là việc Toà án áp dụng không thống nhất pháp luật về thụ lý vụ án, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành Toà án và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Chính vì vậy việc bổ sung điều luật về điều kiện thụ lý vụ án dân sự là điều cấp thiết và quan trọng, đặc biệt là hướng dẫn của Toà án nhân dân Tối cao về cách ghi nội dung trong đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho từng loại quan hệ tranh chấp.
[1] Từ ngày 01/7/2025 trở đi thì Thẩm quyền của Toà án được xác định theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.[2] Khoản 2 Điều 1 Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án năm 2020[3] Khoản 1 Điều 41 Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án năm 2020[4] Việc gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện là nghĩa vụ bắt buộc của người khởi kiện. Tuy nhiên trong trường hợp người khởi kiện có căn cứ chứng minh rằng vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì mới có quyền yêu cầu Toà án hỗ trợ gửi cho đương sự khác.[5] Nếu người khởi kiện nộp trễ hạn biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì Toà án xử lý theo Điều 10 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Từ ngày 01/7/2025 trở đi thì Thẩm quyền của Toà án được xác định theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.
[3] Khoản 2 Điều 1 Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án năm 2020
[4] Khoản 1 Điều 41 Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án năm 2020
[5] Việc gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện là nghĩa vụ bắt buộc của người khởi kiện. Tuy nhiên trong trường hợp người khởi kiện có căn cứ chứng minh rằng vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì mới có quyền yêu cầu Toà án hỗ trợ gửi cho đương sự khác.
[6] Nếu người khởi kiện nộp trễ hạn biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì Toà án xử lý theo Điều 10 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tác giả bài viết: ThS. TRƯƠNG MINH TẤN Toà án nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long
Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn