Dự kiến sửa đổi chế định 'Người tập sự hành nghề luật sư' thành 'Luật sư tập sự'

Thứ sáu - 06/02/2026 01:47

(LSVN) - Điều 14 dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đề xuất thay đổi chế định “Người tập sự hành nghề luật sư” thành “Luật sư tập sự”; đồng thời, tại Điều 20 dự thảo Luật cũng đề xuất việc gia nhập Đoàn Luật sư từ giai đoạn tập sự. Bên cạnh đó, sửa đổi các quyền và nghĩa vụ của luật sư tập sự để bảo đảm cho luật sư tập sự có nhiều cơ hội thực hành nghề hơn trong thực tế.

Ngày 05/02/2026, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội thảo lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan tại khu vực miền Nam về dự thảo chính sách của Luật Luật sư (sửa đổi).

Theo đó, việc lấy ý kiến để khẩn trương chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo chính sách của Luật Luật sư (sửa đổi) trình cấp có thẩm quyền.
Ảnh minh họa. Nguồn: Intrernet.

Theo dự thảo Tờ trình, Luật Luật sư (sửa đổi) tập trung vào 03 nhóm chính sách lớn, nhằm xây dựng đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới. Trong đó:

Chính sách 1: Xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn; hoàn thiện cơ chế bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề của luật sư. 

Nội dung của chính sách gồm: bổ sung tiêu chuẩn có “bản lĩnh chính trị vững vàng” vào tiêu chuẩn luật sư và giao Chính phủ quy định chi tiết về tiêu chuẩn “Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức tốt”; sửa đổi quy trình trở thành luật sư từ khâu gia nhập Đoàn Luật sư, tập sự hành nghề, tổ chức kỳ thi luật sư quốc gia; bỏ quy định về miễn đào tạo nghề luật sư; rà soát các đối tượng được miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư và quy định các đối tượng này phải tham dự khóa đào tạo nghề luật sư 06 tháng để bảo đảm đồng bộ, thống nhất về chính sách trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

Quy định về kỳ thi cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư: thành lập Hội đồng thi luật sư với sự tham gia của Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ sở đào tạo nghề luật sư; rà soát bổ sung các quyền, nghĩa vụ của luật sư; quy định viên chức làm việc trong cơ sở đào tạo về pháp luật có thể trở thành luật sư khi bảo đảm một số điều kiện nhất định.

Chính sách 2: Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy tổ chức hành nghề luật sư hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế và chủ trương phát triển kinh tế tư nhân. 

Mục tiêu của chính sách nhằm phát triển thị trường dịch vụ pháp lý gắn với bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách, môi trường thông thoáng, minh bạch, chuyên nghiệp cho luật sư, tổ chức hành nghề luật sư hoạt động và phát triển; khắc phục tình trạng các cá nhân, tổ chức không phải là luật sư nhưng cung cấp dịch vụ pháp lý như luật sư; thu hút các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư có uy tín, có thương hiệu vào hành nghề tại Việt Nam, đồng thời khuyến khích việc nội địa hóa các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

Chính sách 3: Đổi mới quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư theo hướng hiệu lực, hiệu quả, thực hiện phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số; nâng cao năng lực, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

Liên quan đến các chính sách này, tại Hội thảo, Luật sư Nguyễn Văn Đức, đại diện Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh đã nêu một số góp ý.

Đối với nội dung chính sách 1 là xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn; hoàn thiện cơ chế đảm bảo kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề của luật sư.

Theo tờ trình, tổ soạn thảo lựa chọn giải pháp: “Bổ sung tiêu chuẩn về bản lĩnh chính trị đối với luật sư; sửa đổi, bổ sung quy định về đào tạo nghề, tập sự và kỳ thi quốc gia để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư”.

Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh cho rằng, về tiêu chuẩn “Luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng”, Nghị quyết 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng có nêu về tiêu chuẩn luật sư “có bản lĩnh chính trị vững vàng”.

Mặc dù, việc thể chế hóa Nghị quyết 27-NQ/TW là cần thiết, tuy nhiên, “bản lĩnh chính trị vững vàng” là một khái niệm mang nặng tính định tính và “người có bản lĩnh chính trị vững vàng” phải trải qua một quá trình nhận thức, rèn luyện, trưởng thành trong hoạt động hành nghề mà hình thành chứ không thể muốn là có ngay.

Vì vậy, việc thể chế hóa tiêu chuẩn này, nếu bắt buộc phải đưa vào Luật Luật sư thì cần hết sức cân nhắc và càng chi tiết càng tốt. Bởi lẽ, việc xác định tiêu chuẩn “có bản lĩnh chính trị vững vàng” là điều kiện để cấp chứng chỉ ngành nghề luật sư nếu không quy định cụ thể, chi tiết sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, áp dụng không thống nhất, thậm chí dễ lạm dụng tùy tiện, gây khó dễ cho người xin cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.

Song song đó, việc đưa tiêu chuẩn “có bản lĩnh chính trị vững vàng” vào Luật Luật sư sẽ dẫn đến việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hằng năm được thực hiện ra sao…

Mặt khác, việc đưa tiêu chuẩn này vào điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề cũng sẽ dẫn đến việc tính toán xây dựng mới, cơ cấu lại chương trình đào tạo nghề luật sư. Đồng thời, cũng theo tờ trình, luật sư tập sự phải thi về “Nhận thức nghề luật sư”. Nếu đây là môn thi mới và bắt buộc thì có trùng lắp với môn thi về “Pháp luật về luật sư, hành nghề luật sư và đạo đức nghề nghiệp luật sư” hiện nay của Liên đoàn Luật sư Việt Nam đang tổ chức?

Ngoài ra, Điều 14 dự thảo Luật quy định về tập sự hành nghề luật sư đã có đề xuất thay đổi chế định “Người tập sự hành nghề luật sư” thành “Luật sư tập sự”; đồng thời, tại Điều 20 dự thảo Luật cũng đề xuất việc gia nhập Đoàn Luật sư từ giai đoạn tập sự. Bên cạnh đó, sửa đổi các quyền và nghĩa vụ của luật sư tập sự để bảo đảm cho luật sư tập sự có nhiều cơ hội thực hành nghề hơn trong thực tế.

Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh thống nhất với nội dung này trong dự thảo Luật, theo Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, đây không chỉ là thay đổi tên gọi mà là thay đổi về thực chất của việc tập sự của người có mong muốn trở thành luật sư.

Tuy nhiên, để việc bảo đảm cho luật sư tập sự có nhiều cơ hội thực hành nghề luật hơn trong thực tế thì dự thảo Luật Luật sư cũng cần có những quy định ràng buộc trách nhiệm của luật sư tập sự, luật sư hướng dẫn, giới hạn quyền được tham gia hoạt động hành nghề trong thực tế.

Cụ thể, luật sư tập sự có thể tham gia tố tụng (luật sư bảo vệ, đại diện theo ủy quyền) ở TAND cấp khu vực đối với các vụ án dân sự (mở rộng) hoặc tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự mà người bị buộc tội bị điều tra, truy tố, xét xử với tội danh có khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù.

Tất cả hoạt động của luật sư tập sự phải được sự hướng dẫn và tham gia cùng với luật sư hướng dẫn, đồng thời có sự đồng ý bằng văn bản của khách hàng.

Theo quy định hiện hành, Điều 14 Luật Luật sư 2012 về tập sự hành nghề luật sư có nêu, người có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư và người quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này được tập sự hành nghề tại tổ chức hành nghề luật sư.

Thời gian tập sự hành nghề luật sư là 12 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 16 của Luật này. Thời gian tập sự hành nghề luật sư được tính từ ngày đăng ký tập sự tại Đoàn Luật sư.

Tổ chức hành nghề luật sư phân công luật sư hướng dẫn người tập sự hành nghề luật sư. Luật sư hướng dẫn tập sự phải là người có ít nhất ba năm kinh nghiệm hành nghề luật sư và không thuộc trường hợp đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này. Tại cùng một thời điểm, một luật sư không được hướng dẫn quá ba người tập sự.

Bên cạnh đó, người tập sự hành nghề luật sư đăng ký tập sự tại Đoàn Luật sư ở địa phương nơi có trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư mà mình tập sự và được Đoàn luật sư cấp Giấy chứng nhận người tập sự hành nghề luật sư.

Đoàn Luật sư có trách nhiệm giám sát việc tập sự hành nghề luật sư.

Người tập sự hành nghề luật sư được giúp luật sư hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp nhưng không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại phiên tòa, không được ký văn bản tư vấn pháp luật.

Người tập sự hành nghề luật sư được đi cùng với luật sư hướng dẫn gặp gỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự, nguyên đơn, bị đơn và các đương sự khác trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính khi được người đó đồng ý; giúp luật sư hướng dẫn nghiên cứu hồ sơ vụ, việc, thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ, việc và các hoạt động nghề nghiệp khác; được tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác theo sự phân công của luật sư hướng dẫn khi được khách hàng đồng ý.

Luật sư hướng dẫn phải giám sát và chịu trách nhiệm về các hoạt động của người tập sự hành nghề luật sư quy định tại khoản này.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định cụ thể việc tập sự hành nghề luật sư.

Còn đối với việc miễn, giảm đào tạo nghề luật sư, thời gian tập sự hành nghề luật sư, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh hoàn toàn nhất trí về việc rà soát “các trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư, miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư mặc dù có kinh nghiệm, kiến thức về pháp luật, chuyên môn trong quá trình công tác nhưng kỹ năng hành nghề luật sư, trách nhiệm, đạo đức ứng xử nghề nghiệp luật sư có đặc thù riêng”.

Từ thực tiễn hoạt động hành nghề luật sư, nhận thấy chỉ có các chức danh thẩm phán, kiểm sát viên, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật và tiến sĩ luật mới được miễn đào tạo nghề luật sư và miễn tập sự hành nghề luật sư.

Các chức danh khác bắt buộc phải được đào tạo nghề luật sư và phải tập sự hành nghề luật sư. Lý do là thẩm phán, kiểm sát viên là những người nắm vững luật nội dung, luật tố tụng, có kinh nghiệm và cùng trực tiếp tiến hành công tác xét xử tại phiên tòa với sự tham gia của luật sư. Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật và tiến sĩ luật là những người thầy đào tạo cử nhân luật và thạc sĩ luật.

Từ đó, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh kiến nghị sửa đổi Điều 13 dự thảo Luật thành chỉ có thẩm phán, kiểm sát viên, giáo sư và phó giáo sư ngành luật, tiến sĩ luật mới được miễn đào tạo nghề luật sư và miễn tập sự hành nghề luật sư.

Đối với thẩm phán và kiểm sát viên phải có thêm các điều kiện đã có thời gian công tác thẩm phán, kiểm sát viên liên tục ít nhất 05 năm (một nhiệm kỳ) và thời gian từ lúc nghỉ làm thẩm phán, kiểm sát viên đến lúc gia nhập Đoàn luật sư ít nhất 02 năm.

Đối với các chức danh khác đều phải qua đào tạo nghề luật sư và tập sự hành nghề luật sư. Không đặt vấn đề miễn, giảm thời gian đào tạo hoặc thời gian tập sự vì không có căn cứ, thêm nhiều thủ tục phức tạp và khó khăn trong thực hiện vì không thể xây dựng chương trình, nội dung đào tạo và tập sự riêng cho các đối tượng được miễn, giảm.

Tác giả bài viết: QUẾ VÕ (t/h)

Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ĐỐI TÁC CỦA LUẬT PHÁP LÝ
ngan háng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây