Khoảng trống giữa trường luật và nghề luật: Khi trách nhiệm bị che đậy bằng hình thức

Chủ nhật - 11/01/2026 21:26

(LSVN) - Học xong trường luật chưa đồng nghĩa với việc có thể làm luật sư. Giữa giảng đường và đời sống pháp lý tồn tại một khoảng trống không nằm ở kiến thức, mà ở trách nhiệm. Khi tập sự bị hiểu như một dạng lao động, khoảng trống ấy không được lấp, mà chỉ bị che lại. Và cái giá cuối cùng không phải người học, mà là công lý.

Khoảng trống giữa trường luật và nghề luật: Khi trách nhiệm bị che đậy bằng hình thức

Vấn đề không nằm ở chỗ khoảng trống có tồn tại hay không. Vấn đề nằm ở cách hệ thống đang đối diện với khoảng trống đó như thế nào.

Trường luật và nghề luật vận hành trong hai logic khác nhau. Trường luật là không gian của chuẩn mực, khái niệm và hệ thống tri thức, nơi câu hỏi thường có đáp án và đáp án được đo bằng đúng – sai theo giáo trình. Nghề luật thì khác. Nghề luật vận hành trong không gian của xung đột lợi ích, áp lực thời gian và rủi ro pháp lý thật. Ở đó, nhiều quyết định không có đáp án sẵn, thậm chí không tồn tại lựa chọn “đúng tuyệt đối”. Luật sư buộc phải lựa chọn trong điều kiện thông tin không đầy đủ và trách nhiệm hiện hữu.
 

Luật sư Mai Thị Thảo, Phó Giám đốc TAT Law Firm.

Sự khác biệt này không phải là lỗi của trường luật. Đó là giới hạn tự nhiên của đào tạo học thuật. Vấn đề chỉ bắt đầu khi hệ thống kỳ vọng rằng khoảng trống ấy sẽ tự biến mất, hoặc tệ hơn, khi hệ thống chọn cách che đi khoảng trống bằng hình thức.

Khoảnh khắc một người thực sự bước vào nghề luật không phải là khi họ thuộc luật, mà là khi họ đối diện với một quyết định mà không có sách nào trả lời thay. Đó có thể là lựa chọn một phương án an toàn hơn nhưng không tối ưu; là việc khuyên thân chủ dừng lại khi họ muốn đi tiếp; hay là việc từ chối một yêu cầu dù biết điều đó bất lợi về kinh tế. Những quyết định ấy không thể được dạy trọn vẹn trong giảng đường. Chúng chỉ hình thành khi con người buộc phải chịu trách nhiệm cho hệ quả của lựa chọn của chính mình.

Vì vậy, khoảng trống giữa trường luật và nghề luật không phải là khoảng trống kiến thức, mà là khoảng trống trách nhiệm.

Chính ở điểm này, cách hiểu về tập sự hành nghề luật sư thường bị lệch hướng. Khi tập sự bị nhìn như một dạng lao động chưa được trả công tương xứng, bản chất của giai đoạn này dễ bị đảo ngược. Tập sự không phải là thời kỳ tạo ra giá trị nghề nghiệp độc lập như một luật sư đã hành nghề hoàn chỉnh, và cũng không thể đặt kỳ vọng quyền lợi theo cấu trúc của một quan hệ lao động đầy đủ. Về bản chất, đó là giai đoạn đào tạo nghề luật sư kéo dài – nơi người học học cách gánh trách nhiệm pháp lý trong những tình huống có kiểm soát, dưới sự dẫn dắt chuyên môn và rủi ro gián tiếp của những người đi trước.

Nhìn đúng bản chất đó, cần thừa nhận thẳng thắn rằng trong giai đoạn tập sự, xã hội, gia đình và chính người học đang cùng “trả giá trước”. Xã hội chấp nhận đầu tư cho đào tạo nghề mà chưa thu được lợi ích tức thì. Gia đình tiếp tục hỗ trợ một người học nghề chưa có thu nhập ổn định. Người học trả giá bằng thời gian, công sức và việc chấp nhận chưa được ghi nhận đầy đủ về mặt vật chất trong giai đoạn đang hình thành năng lực hành nghề.

Điều này không đồng nghĩa với việc người tập sự phải bị bỏ mặc. Một hệ thống tử tế cần có cơ chế hỗ trợ tối thiểu để người học nghề có thể sống được và theo nghề. Nhưng cần phân biệt rạch ròi: hỗ trợ để học nghề khác về bản chất với trả công cho một quan hệ lao động đã hoàn chỉnh. Nhập nhằng hai điều này chỉ làm mờ cấu trúc đào tạo và né tránh câu hỏi cốt lõi về trách nhiệm.

Nếu khoảng trống là trách nhiệm, thì đào tạo trách nhiệm không thể giải quyết bằng khẩu hiệu, chứng chỉ hay việc quy mọi tranh luận về “lương tập sự”. Đào tạo trách nhiệm luôn đòi hỏi thời gian, cấu trúc và kỷ luật nghề nghiệp.

Khi khoảng trống này không được nhìn nhận nghiêm túc, hệ thống thường chọn những giải pháp dễ chịu hơn: thêm danh xưng, thêm khóa học ngắn hạn, thêm số năm kinh nghiệm được tính cơ học. Những lớp hình thức đó có thể tạo cảm giác an tâm tạm thời, nhưng không tạo ra năng lực hành nghề thật. Nguy hiểm hơn, chúng tạo ra ảo tưởng rằng khoảng trống đã được xử lý, trong khi thực chất chỉ bị che lại.

Cần nói thẳng: khi coi tập sự là một quan hệ lao động thuần túy để mặc cả quyền lợi, hệ thống thực chất đang né tránh chi phí đào tạo trách nhiệm và chuyển rủi ro ấy cho xã hội trong tương lai. Đó không phải là tiến bộ, mà là sự trì hoãn có tổ chức.

Không phải ai học luật cũng nên trở thành luật sư. Và không phải xã hội nào cũng đủ kiên nhẫn để đào tạo luật sư đúng nghĩa. Tập sự, nếu nhìn cho đúng, không phải là giai đoạn để đòi hỏi giá trị, mà là giai đoạn xã hội chấp nhận trả giá trước để một con người học cách chịu trách nhiệm cho số phận pháp lý của người khác. Khi xã hội từ chối khoản đầu tư ấy, công lý sẽ trở thành khái niệm mong manh nhất đúng vào lúc nó cần được bảo vệ nhất.
 

Luật sư Mai Thị Thảo - Phó Giám đốc TAT Law Firm

“Nếu tập sự bị nhìn như một dạng lao động rẻ, hệ thống đang tự từ chối đào tạo trách nhiệm. Và khi trách nhiệm không được đào tạo, rủi ro sẽ không biến mất – nó chỉ chờ đến lúc xuất hiện trong những vụ việc mà cái giá phải trả là niềm tin xã hội".

Tác giả bài viết: Luật sư MAI THỊ THẢO Phó Giám đốc TAT Law Firm

Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam::

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ĐỐI TÁC CỦA LUẬT PHÁP LÝ
ngan háng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây