Thực tế ở Việt Nam từ nhiều năm nay đã hình thành một cơ chế đào tạo nghề theo hai giai đoạn tương đối rõ ràng. Giai đoạn thứ nhất là đào tạo cử nhân luật tại các trường đại học. Mục tiêu của giai đoạn này là hình thành tri thức pháp lý nền tảng, năng lực tư duy pháp lý và khả năng tiếp cận các vấn đề pháp luật. Giai đoạn thứ hai là đào tạo nghề nghiệp chuyên sâu tại các cơ sở chuyên trách như Học viện Tư pháp, Học viện Tòa án, Trường Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát (nay là Trường Đại học Kiểm sát). Chính ở giai đoạn này, người học mới được đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp đặc thù như tranh tụng, xét xử, kiểm sát, thi hành án, công chứng hay các kỹ năng hành nghề chuyên biệt khác. Sau đó, còn có giai đoạn tập sự nghề nghiệp, có kinh nghiệm thực tiễn nghề nghiệp hoặc thi hết tập sự, thi công chức… trước khi được cấp chứng chỉ hành nghề hoặc bổ nhiệm chức danh tư pháp. Vì vậy, nếu yêu cầu chương trình cử nhân luật đồng thời phải thực hiện đầy đủ chức năng đào tạo nghề thì có nguy cơ làm mờ ranh giới giữa giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp chuyên môn.
Một điểm đáng lưu ý khác là yêu cầu về đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn. Về mặt nguyên tắc, tăng cường thực tiễn trong đào tạo luật là cần thiết. Tuy nhiên, nếu quy định được thiết kế theo hướng quá cứng nhắc thì có thể tạo ra những nghịch lý khó giải quyết. Thực tế cho thấy các thẩm phán hiện nay phải dành phần lớn thời gian cho hoạt động xét xử cũng như các kiểm sát viên phải tập trung vào công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tương tự như vậy, các luật sư giỏi nghề thường xuyên phải tham gia tư vấn, đàm phán hoặc tranh tụng theo lịch trình phụ thuộc vào khách hàng và cơ quan tiến hành tố tụng. Chính vì vậy, những người có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nhất lại thường không thể tham gia giảng dạy đại học với cường độ thường xuyên như một giảng viên cơ hữu. Ngược lại, một giảng viên đại học nếu đồng thời dành phần lớn thời gian cho hoạt động hành nghề thì cũng khó duy trì được yêu cầu về giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên và phát triển chương trình đào tạo. Đây không phải là vấn đề riêng của Việt Nam mà là đặc điểm chung của giáo dục luật trên thế giới. Các trường luật thường giải quyết bằng cách kết hợp giữa đội ngũ giảng viên cơ hữu chuyên về nghiên cứu và giảng dạy với đội ngũ chuyên gia thực tiễn tham gia theo hình thức giảng dạy chuyên đề, hội thảo, tọa đàm, mô phỏng phiên tòa, hướng dẫn thực tập hoặc đồng giảng dạy trong một số học phần nhất định. Mô hình này cho phép sinh viên vừa được tiếp cận nền tảng học thuật bài bản, vừa được tiếp xúc với thực tiễn nghề nghiệp mà không làm biến trường đại học thành cơ sở đào tạo nghề.
Như vậy, nếu đặt ra yêu cầu quá cao về tỷ lệ giảng viên phải có hoạt động hành nghề thực tiễn thường xuyên, rất có thể nhiều cơ sở đào tạo luật sẽ gặp khó khăn trong việc đáp ứng, không phải vì thiếu chất lượng mà vì đặc thù nghề nghiệp của các chức danh tư pháp và nghề luật. Điều quan trọng hơn có lẽ không phải là giảng viên có đang trực tiếp hành nghề hay không, mà là chương trình đào tạo có tạo được cơ chế kết nối thường xuyên với thực tiễn hay không. Một phiên tòa giả định được thiết kế tốt, một chương trình thực tập hiệu quả, một học phần có sự tham gia của thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư hay chuyên gia pháp chế doanh nghiệp đôi khi mang lại giá trị thực tiễn lớn hơn nhiều so với việc chỉ tính toán tỷ lệ giảng viên có hay không có hoạt động hành nghề.
Có thể nói rằng, nâng cao chất lượng đào tạo luật là yêu cầu cần thiết. Nhưng nâng cao chất lượng không đồng nghĩa với việc đồng nhất đào tạo cử nhân luật với đào tạo nghề luật. Trong hệ thống đào tạo hiện nay, trường đại học có nhiệm vụ đào tạo nền tảng khoa học pháp lý và định hướng nghề nghiệp ban đầu. Các cơ sở đào tạo nghề mới là nơi hình thành kỹ năng hành nghề chuyên sâu. Chính sách quản lý đào tạo luật vì vậy cần được thiết kế trên cơ sở phân công chức năng hợp lý giữa hai giai đoạn này, thay vì đặt toàn bộ kỳ vọng nghề nghiệp lên chương trình cử nhân luật vốn chỉ có khoảng 125 tín chỉ và nhiều mục tiêu đào tạo khác phải thực hiện đồng thời.
Tác giả bài viết: Tiến sĩ DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN Trưởng Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP. HCM.
Nguồn tin: Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam:
Những tin cũ hơn